A. PHẦN TR̀NH BÀY
Năm 1622 là khúc ngoặc quan trọng trong lịch sử truyền giáo của Hội
Thánh. Trước những lạm dụng của các vị vua Bảo Trợ, Ṭa Thánh lấy
lại quyền điều hành việc truyền giáo, và thiết lập Thánh Bộ Truyền
Bá Đức Tin (1622), Thánh Bộ đă kiểm tra lại toàn bộ sinh hoạt truyền
giáo trên thế giới, và cung cấp nhiều phương tiện truyền giáo như:
mở nhà in đa ngữ, hỗ trợ tài chính, gửi các sách phụng vụ và giáo
lư, lập chủng viện Urbano 1627, để đào tạo các chủng sinh ở các miền
truyền giáo gửi về, lập ra chức Giám quản Tông Ṭa cho các giám mục
miền truyền giáo, trực thuộc Ṭa Thánh. Phương pháp truyền giáo ở
các nơi đều phải tuân theo sự hướng dẫn của Thánh Bộ, dựa trên bản
Huấn Thị 1659, với những chỉ thị tích cực: “Các thừa sai phải được
huấn luyện theo luật bác ái Tin Mừng, biết thích nghi với phong tục
và tính t́nh người khác... Công việc trước mắt của chư huynh là đưa
những người địa phương, xứng đáng lên chức linh mục và cả giám mục
nữa... Hăy rao giảng cho tín hữu bổn phận trung thành với chính
quyền... Đừng đưa vào nước họ đất nước của ḿnh, mà là Đức Tin, Đức
Tin này không hề khai trừ hay làm tổn thương những nghi lễ tập tục
của bất cứ dân tộc nào cả...”
Cũng năm đó, ngày 9-9-1659. Ṭa Thánh thiết lập hai giáo phận trên
đất Việt, và đặt hai Giám Quản Tông Ṭa đầu tiên:
– Giáo phận Đàng Trong: từ sông Gianh trở vào, với Đức cha Lambert
de la Motte.
– Giáo phận Đàng Ngoài: từ sông Gianh trở ra, với Đức cha François
Pallu.
Trải qua ba trăm năm (từ 1659-1960). Hội Thánh Việt Nam đă phát
triển trong sự chăm sóc của nhiều đơn vị thừa sai; với sự đóng góp
rất lớn lao của các linh mục và tu sĩ Việt Nam; đă đồng hành cùng
dân tộc trong mọi biến cố, và đă tích cực làm chứng cho niềm Tin
bằng nhiều hoạt động bác ái phục vụ, cũng như bằng chính cả mạng
sống ḿnh.
1. Những ṿng tay thân ái
Nằm trong sự điều hành chung của Thánh Bộ Truyền Giáo, tuổi thơ của
Hội Thánh Việt Nam đă được biết bao trái tim và bàn tay các tín hữu
khắp bốn phương săn sóc và dưỡng nuôi: Các nhà truyền giáo tại Việt
Nam, linh mục hoặc tu sĩ nam nữ, thuộc nhiều quốc tịch như Pháp, Tây
Ban Nha, Ư, Đức, Bỉ, Ái Nhĩ Lan, Gia Nă Đại, Hoa Kỳ, Trung Hoa...
Các ngài đă sẵn sàng từ bỏ quê cha đất tổ, để đến hoạt động tại Việt
Nam, và ước nguyện được phục vụ Tin Mừng trên giải đất này. Các ngài
đă chấp nhận nếp sống thiếu thốn tiện nghi, cư ngụ trong các mái nhà
tranh vách đất, chịu đựng khí hậu nóng bỏng của vùng nhiệt đới, chấp
nhận cả những ngược đăi, hiểu lầm. Trong những tập thể đóng góp
nhiều công sức nhất cho chúng ta có ngày hôm nay, phải kể đến Hội
Thừa Sai Paris, Ḍng Đaminh, Ḍng Tên, và Ḍng Phanxicô.
Hàng ngàn thành viên Hội Thừa Sai Paris đă đảm nhiệm toàn bộ khu vực
địa phận Tây Đàng Ngoài (nay là các địa phận Hà Nội, Vinh, Hưng Hóa,
Phát Diệm và Thanh Hóa), và khu vực địa phận Đàng Trong (nay là 15
địa phận thuộc giáo tỉnh Huế và Sài G̣n) suốt 300 năm, trước khi
giao lại cho hàng Giáo phẩm Việt Nam.
Tương tự như thế là ḍng Đa Minh với địa phận Đông Đàng Ngoài (nay
là các địa phận Hải Pḥng, Bùi Chu, Bắc Ninh, Thái B́nh và Lạng
Sơn), với 243 thừa sai Tây Ban Nha và 134 linh mục Ḍng người Việt.
Ngoài ra Ḍng Tên, sau 1659 vẫn c̣n một số thừa sai hoạt động tại
Đàng Trong đến năm 1783, và Đàng Ngoài đến 1802. Riêng Ḍng
Phanxicô, với hơn một thế kỷ (từ 1719-1834), đă thiết lập thêm hàng
trăm giáo xứ mới tại miền Trung và miền Nam. Từ năm 1862, khi vua Tự
Đức chấp thuận cho việc giảng đạo, số các Ḍng Tu đến trên giải đất
h́nh chữ “S” này ngày càng nhiều, và đảm nhiệm những sinh hoạt ngày
càng đa dạng.
– Ḍng Nữ có các Ḍng: Phaolô thành Chartres (1860), Ḍng kín Cát
minh (1862), Chúa Quan Pḥng (1876), Đức Bà Truyền Giáo (1924), Vinh
Sơn Phalô (1925), Nữ Tá Quốc Tế, Biển Đức và Tiểu Muội (1954), Nữ tu
Đấng Chăn Chiên Lành (1958), Con Đức Mẹ Phù Hộ Salêsian và Nữ Tỳ Đức
Giêsu - Mẹ Maria (1961), tu hội Dâng Truyền (1964) và ḍng Phalô
Thiện Bản (1974).
– Ḍng Nam có các Ḍng: Lasan (1866), Đaminh Lyon (1902), Chúa Cứu
Thế (1925), Phanxicô (1928), Tu hội Xuân Bích (1933), Đan viện Xi-tô
Mỹ Ca (1933), Biển Đức (1935), Gioan Thiên Chúa (1952), Don Bosco
(1952), Tiểu Đệ Đức Giêsu (1953), Lagiariste (1954), Ḍng Tên
(1957), Đức Mẹ Người nghèo (1970) và Ḍng Thánh Thể (1971).
Ngoài ra chúng ta không thể quên những “đồng xu mỗi tuần” của hàng
triệu tín hữu khắp nơi, tham gia vào các Hội Truyền Bá Đức Tin ở
Lyon (1822), Hội Thánh Nhi (1843) nhằm giúp trẻ em miền truyền giáo,
và Hội Thánh Phêrô (1893) giúp các chủng viện truyền giáo. Cũng
không thể quên, đàng sau các nhà truyền giáo là tập thể các Ḍng tu
quốc tế, sẵn sàng yểm trợ các chương tŕnh từ thiện, tặng học
bổng... Và cũng thế, làm sao quên được hàng triệu các thân hữu, và
ân nhân khắp hoàn cầu, mỗi ngày dâng lời cầu nguyện cho Hội Thánh
Việt Nam.
2. Đảm nhận vận mệnh chính ḿnh
Đọc lại lịch sử Giáo Hội Việt Nam, người ta thấy ngoài vai tṛ của
các thừa sai nước ngoài, việc phát triển của Hội Thánh đă nhờ vào
chính những người Việt thiện chí và hăng say, dâng hiến trọn cuộc
sống cho Nước Trời, đưa Tin Mừng đến khắp các hang cùng ngơ hẻm, và
nuôi dưỡng đời sống đức tin cho anh em ḿnh, đó là các linh mục và
tu sĩ Việt Nam.
a. Hàng giáo sĩ Việt Nam. Năm 1668, Đức cha Lambert đă đặt tay
truyền chức cho bốn linh mục tiên khởi tại Juthia, Thái Lan là: Cha
Giuse Trang, cha Luca Bền, (thuộc Đàng Trong) cha Bênêđictô Hiền,
Gioan Huệ (thuộc Đàng Ngoài) và năm sau, thêm bảy tân linh mục khác
thuộc Đàng Ngoài. Chín linh mục Đàng Ngoài đă cùng với Đức Cha
Lambert và ba thừa sai, họp Công Đồng đầu tiên của Hội Thánh Việt
Nam tại phố Hiến, tháng 2-1670. Các vị đă cùng nhau đưa ra một
chương tŕnh hoạt động, chia giáo xứ, chọn thánh Giuse làm bổn mạng,
và ấn định việc đào tạo chủng sinh qua tổ chức nhà Đức Chúa Trời.
Với tổ chức Nhà Đức Chúa Trời, từ nay, mỗi giáo xứ ổn định đều trở
thành một “tiểu chủng viện” ươm trồng ơn gọi. Những người có khả
năng sẽ được chọn gởi vào chủng viện, hoặc vào trường Kẻ Giảng để
trở thành linh mục hoặc thầy giảng. Chính nhờ đó, Hội Thánh Việt Nam
không bao giờ thiếu linh mục, kể cả trong những giai đoạn bách hại
gay go nhất, khi toàn bộ các thừa sai bị trục xuất. Không kể các
chủng viện liên địa phận tại Juthia (1665), Pondichéry, Ấn Độ
(1769-1782), và Pénang, Mă Lai Á (từ 1807), đă có biết bao linh mục
xuất thân từ các chủng viện:
– Miền Nam tại Hà Tiên (1776) dời lên Tân Triều, Biên Ḥa (1778),
rồi Mỹ Tho (1783), và Lái Thiêu (1789-1832).
– Miền Trung tại Thợ Đúc, Huế (1739-1750), rồi B́nh Định, mới đầu ở
Dinh Cát (1782), sau ở Ḥa Ninh (1784) và An Ninh (1801-1820).
– Miền Bắc có chủng viện Nghệ An (1685). Kẻ Lô (1697). Kiên Lao
(1683), Kẻ Cốc, Bắc Ninh (1684), Lục Thủy, Bùi Chu (1686) và Kẻ Bùi
(1773).
Sau này, mỗi địa phận mới được thành lập, lại đi kèm với các chủng
viện mới. Thống kê sau đây cho ta thấy mức phát triển của hàng giáo
sĩ Việt Nam qua các giai đoạn: 43 linh mục năm 1700, 119 vị năm
1800, 385 vị năm 1900, 1158 vị năm 1933 và năm 1963 số linh mục Việt
Nam đă lên đến 2018 (393 linh mục Ḍng).
b. Các ḍng tu Việt Nam (thế kỷ XVII - XIX). “Hội Thánh Việt Nam từ
thuở khai nguyên, đă được Thiên Chúa ban cho một quà tặng quư báu là
Ḍng Mến Thánh Giá, như một cánh tay hữu h́nh của Chúa Kitô, để cộng
tác với Hội Thầy Giảng, hàng giáo sĩ bản quốc, và các quư chức xây
dựng nhiệm thể Chúa Cứu Thế...” Ḍng Mến Thánh Giá là hội ḍng nữ
đầu tiên mang bản sắc Á Châu và hướng hẳn về việc truyền giáo cho
lương dân. Quả thực, ngay từ đầu năm 1670 (thứ tư Lễ Tro), Đức Cha
Lambert đă nhận lời khấn của hai nữ tu tiên khởi Anê và Paula, tại
Kiên Lao; đă soạn thảo và ban hành hiến pháp Ḍng. Năm sau, ngài
thiết lập thêm một cộng đoàn tại Quảng Ngăi. Kể từ đó, dần dần nữ tu
Mến Thánh Giá có mặt trên các miền đất nước, giữ ba lời khấn, sống
cộng đoàn và liên kết với nhau: giáo dục giới trẻ về văn hóa và đức
tin, phục vụ bệnh nhân, bảo vệ trẻ thơ và góp phần thăng tiến nữ
giới bằng giáo dục và hướng nghiệp. Năm 1854, Đức Cha Retord Liêu đă
gửi tin về Châu Âu: “Ḍng Mến Thánh Giá có 72 nhà, 1600 chị em; và
đă rửa tội hơn 51.000 trẻ em hấp hối”.
Tại miền Truyền giáo thuộc ḍng Đaminh, ngoài các nữ tu Mến Thánh
Giá, c̣n có đông đảo các chị em Đaminh Ḍng Ba Sống Chung. Kể từ
thời cha chính Bustamante Hy, nhà phước Đaminh đầu tiên được lập ở
Trung Linh năm 1715. Về tinh thần, chị em học theo gương Thánh Phụ
Đaminh vác các Thánh Ḍng; về tổ chức, chị em như một tu hội có lời
khấn tư, c̣n về hoạt động th́ tương tự các nữ tu Mến Thánh Giá.
Thống kê của cha chính Alonso Phê năm 1780 cho biết trong khu vực
Đaminh có 5 nhà Mến Thánh Giá (48 d́) và 12 nhà nữ Đaminh (178 d́).
Đến năm 1933, số nữ tu Đaminh tại bốn địa phận Ḍng là 780.
Cuối thế kỷ XIX nhiều Ḍng tu mới đă được thành lập tại Việt Nam:
– Ḍng Nam gồm có: Kitô Vua, Cái Nhum (1870), Sư huynh Thánh Tâm Huế
(1925), Thánh Giuse Nha Trang (1926), Qui Nhơn (1928), Đức Mẹ Đồng
Công (1953); các tu hội: Nhập Thể Tận Hiến (1969), Thánh Gia Long
Xuyên (1970), Nhà Chúa (1971), Đắc Lộ (1957), Gioan Tiền Sử (1974),
Truyền Giáo Cần Thơ (1963), Gia đ́nh Na-Gia (1964). Riêng Ḍng Phước
Sơn được lập năm 1920, đă gia nhập gia đ́nh Xitô năm 1934, được nâng
lên thành chi ḍng Thánh Gia năm 1964 (gồm các Đan viện Phước Sơn
1920, Châu Sơn 1936, Phước Lư 1952, Châu Sơn Đà Lạt 1957 và Châu
Thủy B́nh Tuy 1972).
– Ḍng Nữ gồm có: Con Đức Mẹ Vô Nhiễm (1920), Con Đức Mẹ Thăm Viếng
(1937), Con Đức Mẹ Mân Côi (1946), Nữ Tu Ảnh Phép lạ Kontum (1947),
Trinh Vương (1953), Khiết Tâm Nha Trang (1961), Tu hội Nữ Tỳ Đức
Giêsu Linh Mục (1966, thành hội ḍng 1987), Con Đức Mẹ B́nh Thủy Cần
Thơ (1967), Nữ Vương Ḥa B́nh (1969, Ban Mê Thuộc), Tu hội Nhập Thể
Tận Hiến (1969). Ngoài ra c̣n một số tu hội thử nghiệm như: Tôi Tá
Thánh Linh, Nữ Thánh Tâm, Nữ Tá Truyền Giáo, Nữ Tu Lasan, Nô Tỳ
Thiên Chúa, Nữ tu Thánh Thể, Chúa Hài Đồng, và một số các Gia Đ́nh
Bác Ái (Foyers de charité).
3. Dấn thân phục vụ con người
Với tỷ lệ nhỏ nhoi trong cộng đồng dân tộc, Hội Thánh thực ra chỉ
tham gia một phần nào với sự nghiệp chung của đồng bào. Thế nhưng,
Hội Thánh vẫn canh cánh bên ḷng mối bận tâm phục vụ cho công cuộc
con người ngày càng tươi sáng, tiến bộ và b́nh an, đă để lại những
chứng tá tập thể đặc biệt về mặt an sinh, giáo dục và bác ái từ
thiện.
Góp phần vào sự sống c̣n của quê hương, đă có không ít tín hữu tham
gia quân đội của Tây Sơn, nhiều người c̣n giữ những vị trí chỉ huy.
Trong phong trào yêu nước thời cận đại, sử sách ghi lại danh tính
nhiều nhân vật, như linh mục Đặng Đức Tuấn, như Nguyễn Trường Tộ,
linh mục Nguyễn Điều, Đội Vũ, Lănh Phiên, thầy già Mai, lăo Bang,
hoặc các linh mục Đầu Quang Lĩnh, Nguyễn Tường, Nguyễn Thần Đồng...
Các vị đă đóng góp phần tim óc để “Hiến B́nh Tây Sách” để “Tế cấp
luận”, và đóng góp phần xương máu trên những chặng đường dài đầy
chông gai, để dành độc lập cho dân tộc.
Trong hướng an sinh, các tín hữu cùng nhịp bước với mọi người trong
bối cảnh kinh tế khó khăn: từ những đoàn người đông đảo theo chân cụ
Nguyễn Công Trứ đến lập cư tại Tiền Hải, Kim Sơn, Thái B́nh; cho tới
những đoàn người theo kế hoạch của Chúa Nguyễn, đến an cư lập nghiệp
ngay từ giai đoạn đầu Môi Xuy, Biên Ḥa. Rồi qua những năm tháng
lịch sử, tương tự những đan viện thời Trung Cổ làm nên những làng
mạc Âu Châu, các linh mục đă dẫn dân đi “lập trại” biến những khu
vực hoang vu thành khu dân cư đông đảo, sinh hoạt sầm uất.
Trong lănh vực giáo dục và xă hội, hầu như bất cứ nhà thờ hay tu
viện nào cũng kèm theo trường học và tổ chức bác ái từ thiện, như
những lớp miễn phí, những bệnh viện hoặc trạm xá, xin đan cử một
thống kê của các địa phần miền Trung và miền Nam vào năm 1969 (20).
Các nhà thờ và ḍng tu đă đảm nhiệm tất cả:
– 1030 trường tiểu học, với 345.756 học sinh (25% không công giáo).
– 226 trường trung học, 152.928 học sinh (46% không công giáo).
– 41 bệnh viện, với 7.000 giường.
– 239 trạm phát thuốc, 36 nhà hộ sinh, 29 nhà dưỡng lăo.
– 9 trại phong, với 2.500 bệnh nhân.
– 82 cô-nhi-viện chăm sóc 11.000 em.
Dĩ nhiên những con số ấy cũng chưa nhiều, nhưng cũng đủ nhắc nhở
người tín hữu hôm nay, theo cách thế của ḿnh, nối tiếp vào truyền
thống mục vụ ấy.
4. Lớn lên trong thử thách
Trước hiểm họa thực dân Pháp, triều đ́nh Nhà Nguyễn phải chọn một
trong hai con đường: hoặc là tiến hành cải cách trong nước, mở rộng
bang giao để bảo toàn chủ quyền; hoặc là ch́m đắm trong chính sách
thủ cựu, tự cô lập, cố gắng duy tŕ chế độ quân chủ chuyên chế lạc
hậu. Và triều đ́nh đă chọn con đường thứ hai: dùng những điều luật
hà khắc để trừng trị mọi hành vi bị coi như là chống đối, và thi
hành những chính sách cấm đạo Giatô ngặt nghèo (21). Phân tích lư do
việc cấm đạo là trách nhiệm của khoa lịch sử, trong khi đó, 14 chỉ
dụ cấm đạo từ 1833-1862 là một thực tế lịch sử (22).
Và, chính giữa bối cảnh khó khăn đó, niềm tin của người Kitô hữu
được thanh luyện. Khi mà việc giữ đạo chẳng đem lại cho họ một lợi
tức nào cụ thể, số Kitô hữu vẫn tiếp tục gia tăng, từ 320.000 năm
1800, lên 426.000 năm 1855. Số địa phận từ 3 nâng lên thành 8 địa
phận năm 1850, và 13 địa phận năm 1933.
Trong số những người đổ máu đào minh chứng cho niềm tin: 117 vị đă
được suy tôn chân phước trong 4 đợt: Đức Lêô XIII suy tôn 64 vị năm
1900; Đức Piô X suy tôn 8 vị năm 1906, và 20 vị năm 1909; Đức Piô
XII suy tôn 25 vị năm 1951. Thành Phần gồm 8 giám mục, 50 linh mục,
1 chủng sinh, 14 thày giảng và 44 giáo dân. Tất cả đă được Đức Gioan
Phaolô II suy tôn Hiển Thánh ngày 19-6-1988.
Các địa phận mới được thành lập trước 1933:
– Tại Đàng Ngoài: Vinh (1864), Bùi Chu (1848), Bắc Ninh (1833), Hưng
Hóa (1895), Phát Diệm (1901), Lạng Sơn (1913), Thanh Hóa (1932).
– Địa phận Đàng Trong: năm 1844 được chia thành 2 địa phận Đông (Qui
Nhơn) và Tây (Sài G̣n) tách ra thêm các địa phận Huế (1950), Nam
Vang (1950) và Kontum (1932). Năm 1933, Hội Thánh Việt Nam có Giám
Mục tiên khởi là Đức Cha J.B. Nguyễn Bá Ṭng, khởi sự cho giai đoạn
mới, giai đoạn tiến triển đến trưởng thành.
(Trích “Lược Sử Hội Thánh Công Giáo Tại Việt Nam” trong Giáo Lư Hội
Thánh Công Giáo của HĐGMVN, trang 107-114)Nguồn:
hdgmvietnam.org
B. PHẦN HỎI-ĐÁP
1- H. Các giáo
phận đầu tiên tại Việt
Nam được
thiết lập khi nào?
T. Ngày
9.9.1659, Toà Thánh đă thiết lập 2 giáo phận đầu tiên trên đất Việt
Nam và đặt hai Giám quản tông toà: miền Nam (Đàng Trong) với Đức
Giám mục Lambert de la Motte và miền Bắc (Đàng Ngoài) với Đức Giám
mục François Pallu.
2- H. Những linh mục đầu tiên người Việt
Nam
là ai?
T. Đàng Trong có các linh mục
Giuse Trang và Luca Bền, c̣n Đàng Ngoài có các linh mục
Bênêđictô Hiền và Gioan Huệ. Tất cả đều được Đức Giám mục Lambert de
la Motte truyền chức tại Thái Lan.
3- H. Công đồng
đầu tiên của Giáo Hội tại Việt
Nam được
tổ chức tại đâu?
T. Công đồng
đầu tiên của Giáo Hội tại Việt Nam được tổ chức tại Phố Hiến (Hưng
Yên) vào tháng 2 năm 1670 dưới quyền chủ toạ của Đức Giám mục
Lambert de la Motte.
4- H. Nội dung
của công đồng gồm những ǵ?
T. Công đồng
đă đưa ra một chương tŕnh hoạt động: chia giáo xứ, chọn thánh Giuse
làm bổn mạng Giáo Hội tại Việt
Nam và ấn
định việc đào tạo chủng sinh qua tổ chức Nhà Đức Chúa Trời.
5- H. Các Kitô
hữu Việt
Nam đă
sống đức tin thế nào?
T. Các Kitô
hữu Việt
Nam đă
kiên cường giữ vững đức tin; hằng trăm ngàn đă phải đổ máu đào để
minh chứng cho đức tin của ḿnh. Trong số đó, có 117 vị tử đạo gồm
8 giám mục, 50 linh mục, 59 giáo dân
đă được Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II tôn phong lên bậc hiển thánh
ngày 19 tháng 6 năm 1988. Ngoài ra c̣n có
thầy giảng Anrê Phú Yên được Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II tôn phong
chân phước ngày 5 tháng 3 năm 2000.
C. PHẦN GỢI Ư TRAO ĐỔI
1. Ngay từ thuở đầu, Giáo Hội Việt Nam đă
được biết bao trái tim và bàn tay các tín hữu khắp bốn phương săn
sóc và dưỡng nuôi. Sự kiện này gợi lên cho bạn những cảm nghĩ và tâm
t́nh nào?
2. Công đồng đầu tiên của Giáo Hội Việt Nam
đă được tổ chức tại Phố Hiến (Hưng Yên) vào tháng 2 năm 1670 dưới
quyền chủ toạ của Đức Giám mục Lambert de la Motte.
Theo bạn, Công đồng là ǵ? Công đồng có ư nghĩa và vai tṛ nào trong
đời sống của Giáo Hội?
3. Kể lại cuộc đời và chứng từ của một vị thánh tử đạo tại Việt Nam
mà bạn tôn kính và mến yêu.
KHAI
MẠC NĂM THÁNH 2010
H̀NH ẢNH
LỄ KHAI MẠC
LỜI CÁM ƠN CỦA ĐỨC TỔNG GIÁM MỤC GIUSE NGÔ QUANG KIỆT
BÀI GIẢNG CỦA ĐỨC CHA
GIUSE NGUYỄN CHÍ LINH
DIỄN VĂN KHAI
MẠC CỦA ĐỨC CHA CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC V.N.