|
TIN TỨC GIÁO HỘI |
|
III. Phán Xét như bối cảnh cho việc học hỏi và thực hành hy vọng. 41. Trong phần kết của đoạn giữa Kinh Tin Kính của Giáo Hội – phần kể lại mầu nhiệm Chúa Kitô, từ lúc sinh ra hằng hữu bởi Chúa Cha và lúc sinh ra hữu hạn bởi Đức Maria Đồng Trinh, qua Thập Giá và Phục Sinh đến khi Người lại đến lần thứ hai - chúng ta thấy câu: “Người sẽ trở lại trong vinh quang để phán xét kẻ sống và kẻ chết.” Từ thời xa xưa, viễn ảnh của sự Phán Xét đã ảnh hưởng đến các Kitô hữu trong đời sống hàng ngày như một tiêu chuẩn để sắp xếp trật tự cho đời sống hiện tại của họ, như những lời réo gọi trong lương tâm của họ, và đồng thời như niềm hy vọng vào công lý của Thiên Chúa. Đức tin vào Chúa Kitô không bao giờ chỉ nhìn lui lại phía sau hay nhìn lên trên, mà cũng luôn luôn nhìn về phía trước về giờ phán xét mà Chúa luôn nhắc nhở. Việc nhìn về phía trước này làm cho Kitô hữu thấy được tầm quan trọng của hiện tại. Khi thiết kế các thánh đường Kitô Giáo, với ý hướng làm rõ chiều kích lịch sử và vũ trụ của đức tin nơi Đức Kitô, thông thường ở đầu phía đông của thánh đường, người ta trình bày Chúa Kitô trở lại như một vị vua - một biểu tượng của hy vọng; trong khi ở bức tường phía tây người ta thường trình bầy cuộc Chung Thẩm như một biểu tượng của trách nhiệm chúng ta đối với đời sống mình - một hình ảnh theo đuổi và đồng hành với các tín hữu khi họ bước ra khỏi thánh đường để tiếp tục cuộc sống hàng ngày. Tuy nhiên, khi hình ảnh về cuộc Chung Thẩm được phát triển, càng ngày những khiá cạnh kinh hoàng và đáng sợ càng được chú ý làm nổi bật lên, điều này hiển nhiên thu hút các họa sĩ hơn là vẻ huy hoàng của hy vọng, thường bị chôn vùi bên dưới những sự kinh hoàng. 42. Trong thời đại mới, ý tưởng Chung Thẩm đã mờ dần bên trong hậu trường: đức tin Kitô đã được cá nhân hóa và người tín hữu hướng nhiều hơn đến phần rỗi của chính linh hồn mình, trong khi sự suy tư về lịch sử thế giới lại bị lấn át bởi ý tưởng của thuyết tiến bộ. Tuy nhiên, nội dung căn bản của việc trông đợi ngày Chung Thẩm vẫn chưa mất đi: nó chỉ đơn thuần nhận lấy một hình thức hoàn toàn khác. Thuyết vô thần của thế kỷ 19 và 20 - trong nguồn gốc và mục đích của nó- là một học thuyết luân lý: một sự phản kháng chống lại những bất công của thế giới và của lịch sử thế giới. Một thế giới được ghi dấu bởi quá nhiều những bất công, những đau khổ của người vô tội, và sự hoài nghi quyền lực, không thể nào là kỳ công trình của một Thiên Chúa tốt lành. Một Thiên Chúa chịu trách nhiệm về một thế giới như vậy không thể là một Thiên Chúa công chính, và càng không phải là một Thiên Chúa nhân lành. Vì lợi ích của luân lý, Thiên Chúa này phải bị thách đố. Vì không có một Thiên Chúa đứng ra tạo lập công lý, nên dường như chính con người ngày nay được mời gọi để thiết lập công lý. Trước đau khổ của thế giới này, sự thách đố chống lại Thiên Chúa là có thể hiểu được; nhưng điều cho rằng nhân loại có thể và phải làm những gì không có Chúa nào thực sự làm hay có thể làm, vừa là quá ngạo mạn vừa là sai lầm từ bên trong. Tư tưởng này không phải ngẫu nhiên đã đưa đến những hình thức ghê gớm nhất của sự bạo tàn và những chà đạp công lý; nhưng chính là vì nó đã được đặt căn bản trên sự sai lầm nội tại của khẳng định này. Một thế giới phải tự tạo ra công lý cho mình là một thế giới không có hy vọng. Không ai và không có gì có thể trả lời cho biết bao những thế kỷ đau thương. Không ai và không có gì có thể bảo đảm rằng sự hoài nghi quyền lực - bất kể nó mang mặt nạ ý thức hệ nào - sẽ ngừng thống trị thế giới này. Chính vì vậy mà những tư tưởng gia nổi tiếng của Trường Phái Frankfurt, như Max Horkheimer và Theodore Adorno đã chỉ trích cả thuyết vô thần lẫn hữu thần. Horkheimer loại trừ thẳng tay khả năng tìm được một cái gì trong trần thế có thể thay thế được Thiên Chúa, nhưng đồng thời cũng chối bỏ hình ảnh của một Thiên Chúa tốt lành và công chính. Đề cập đến việc Cựu Ước kêu gọi loại trừ triệt để những ngẫu tượng, ông ta đã coi “sự khao khát một Đấng toàn năng khác” dù không tiếp cận được – như một tiếng kêu đòi hướng đến lịch sử thế giới. Adorno cũng mạnh mẽ ủng hộ một thái độ chối bỏ hoàn toàn những hình tượng, mà lẽ tất nhiên bao gồm sự loại bỏ bất cứ “hình ảnh” nào của một Thiên Chúa yêu thương. Mặt khác, ông cũng thường xuyên nhấn mạnh cái biện chứng “tiêu cực” này và khẳng định rằng công lý - một công lý chân thật - đòi hỏi một thế giới trong đó, “không những các đau khổ hiện tại phải được loại trừ, mà cả quá khứ không thể đảo ngược được cũng phải được đền bù lại.” 30 Tuy nhiên, nói một cách tích cực, dù theo ông vẫn là những biểu tượng chưa đầy đủ, thì điều này có nghĩa là không thể nào có công lý khi không có sự sống lại của kẻ chết. Nhưng như vậy, điều này sẽ liên quan đến “sự sống lại của thân xác, một điều hoàn toàn xa lạ đối với học thuyết và phạm trù của thuyết tinh thần Tuyệt Đối.” 31 43. Kitô hữu cũng có thể và phải thường xuyên học hỏi từ sự từ bỏ hoàn toàn những ngẫu tượng được chứa đựng trong điều răn thứ nhất của Thiên Chúa (xem Xh 20:4). Sự thật của thần học tiêu cực được nhấn mạnh trong Công Đồng Latêranô thứ Tư, là Công Đồng đã khẳng định rõ rằng dù cho có sự tương đồng đến đâu đã được thiết lập giữa Tạo Hóa và tạo vật, sự dị biệt luôn luôn vẫn là lớn hơn. 32 Dù sao chăng nữa, đối với các tín hữu, sự từ bỏ các hình tượng không thể đi đến mức quá khích khiến cho người ta phải trở nên giống như Horkheimer và Adorno, là chối bỏ cả hai học thuyết - hữu thần và vô thần. Chúa đã tự cho mình một “hình ảnh” trong Đức Kitô xuống thế làm người. Trong Người, Đấng bị đóng đinh vào thập giá, sự bác bỏ những hình ảnh sai lầm về Thiên Chúa đã được đưa đến tột đỉnh. Chúa giờ đây mạc khải thiên nhan thật sự của Người trong hình ảnh của kẻ khổ đau đang chia sẻ hoàn cảnh của con Người bị Chúa bỏ rơi bằng cách tự sa vào hoàn cảnh ấy. Kẻ vô tội chịu đau khổ này đã mang lại niềm hy vọng xác quyết là có một Thiên Chúa, và Thiên Chúa có thể tạo dựng công lý theo cách thức chúng ta không thể hình dung ra được, nhưng lại có thể bắt đầu hiểu được qua đức tin. Vâng, có sự sống lại của thân xác. 33 Có công lý. 34 Có một sự “đền bù lại” các đau khổ trong quá khứ, một sự sửa sai giúp cho mọi sự được đúng trở lại. Vì lý do này, niềm tin vào cuộc Chung Thẩm là niềm hy vọng trước hết và trên hết – một nhu cầu đã được biểu hiện nhãn tiền qua biết bao các cuộc nổi loạn trong các thế kỷ gần đây. Tôi tin rằng vấn đề công lý là luận cứ thiết yếu, hay trong bất cứ trường hợp nào cũng là luận cứ mạnh mẽ nhất cho đức tin vào đời sống vĩnh cửu. Nhu cầu hoàn toàn cá nhân của chúng ta cho một sự viên mãn đã bị chối từ trong đời này, cho một tình yêu vĩnh cửu mà chúng ta trông đợi, chắc chắn là một động lực quan trọng cho niềm tin là con người được sinh ra cho thế giới vĩnh hằng; nhưng, chỉ trong mối liên hệ với sự thật theo đó sự bất công của lịch sử không thể là tiếng nói sau cùng thì lúc đó sự cần thiết cho việc Đức Kitô trở lại và cho một đời sống mới, mới trở nên hoàn toàn đáng thuyết phục. Nhưng, đôi khi, mắt vị thẩm phán cũng dừng lại trên một linh hồn khác đã sống trong sạch và chân thật, “thì ngài kính phục và cho gửi ngay đến những hòn đảo của những linh hồn được chúc phúc.” 36 Trong dụ ngôn người giầu có và Lazarô (x. Lk 16: 19-31), Chúa Giêsu răn dạy chúng ta qua hình ảnh của một linh hồn bị thiêu hủy bởi sự ngông cuồng và phung phí; người này đã tạo nên một hố sâu không vượt qua được giữa hắn và người nghèo khó; hố sâu của sự giam mình trong những thú vui vật chất; hố sâu của sự bỏ quên người khác, của sự thiếu khả năng yêu thương, một hố sâu đã hình thành một nỗi khát khao thiêu đốt và không thể nào thỏa mãn. Chúng ta phải ghi nhận rằng trong dụ ngôn này, Chúa Giêsu không đề cập đến định mệnh cuối cùng sau cuộc Chung Thẩm, nhưng lại đưa ra một quan niệm mới, inter alia, được thấy trong Do Thái Giáo sơ khai, đó là một trạng thái trung gian giữa cái chết và sự sống lại., một trạng thái trong đó phán quyết cuối cùng chưa được ban ra. 45. Ý tưởng về trạng thái trung gian trong Do Thái Giáo sơ khai bao gồm cả quan niệm cho rằng các linh hồn không chỉ đang sống trong một hình thức bị tạm giam, nhưng như được minh họa trong dụ ngôn về người giầu có, các linh hồn đã đang phải chịu phạt rồi hay đang được hưởng một hình thái hạnh phúc tạm thời. Cũng có ý tưởng cho rằng trạng thái này có thể bao gồm sự thanh tẩy và chữa lành là những điều làm cho linh hồn trưởng thành hầu có thể hiệp thông với Thiên Chúa. Giáo Hội sơ khai tiếp nhận các quan điểm này, và trong Giáo Hội Tây Phương, chúng dần dần được phát triển thành học thuyết về Luyện Ngục. Chúng ta không cần xem xét ở đây các nẻo đường phức tạp trong lịch sử sự phát triển ấy; mà chỉ cần hỏi xem điều này thực ra có ý nghĩa gì. Với cái chết, sự chọn lựa trong cuộc đời của chúng ta trở nên chung cuộc – cuộc sống của chúng ta giờ đây đứng trước tòa phán xét. Sự chọn lựa của chúng ta, với nhiều khả năng lựa chọn đa dạng, trong dọc dài suốt cuộc đời giờ đây có một hình thù nhất định. Có những con người đã hoàn toàn huỷ đi tất cả những ham muốn của mình vì sự thật và để luôn sẵn sàng yêu thương, cũng có những con người mà mọi thứ trong đời họ đều là dối trá, và cũng có những con người đã sống cho thù hận và đè bẹp mọi thứ tình yêu trong lòng họ. Đây là một ý tưởng đáng sợ, nhưng những diện mạo đáng lo ngại như thế có thể thấy được nơi một số nhân vật nhất định trong lịch sử chúng ta. Trong những con người này, mọi sự đã hết thuốc chữa và sự tàn lụi điều thiện trong họ không thể nào đảo ngược lại: đây là ý nghĩa chúng ta muốn nói lên trong từ Hỏa Ngục. 37 Mặt khác, có thể có những người hoàn toàn trong sạch, hoàn toàn được thấm nhuần bởi Thiên Chúa, và do đó, hoàn toàn cởi mở cho tha nhân- đó là những người mà sự hiệp thông với Thiên Chúa ngay cả vào lúc này đây vạch ra cho họ những hướng đi cho toàn bộ đời mình và hành trình của họ đến với Chúa chỉ là mang thêm sự viên mãn vốn họ đã có sẵn. 38 46. Nhưng kinh nghiệm cũng chỉ cho ta rằng cả hai trường hợp trên đều không là bình thường trong đời sống nhân loại. Chúng ta có thể tin rằng đối với đa số người, trong thẳm sâu con người của họ, vẫn còn một sự cởi mở tối hậu bên trong dành cho sự thật, cho tình yêu, và cho Thiên Chúa. Trong những lựa chọn cụ thể của cuộc đời, cho dù bị bao phủ bởi những nhượng bộ luôn mới mẻ với sự dữ - khiến cho sự dơ bẩn lấn át sự trong sạch, nhưng lòng khát khao sự thuần khiết vẫn còn đó và vẫn thường xuyên tái xuất hiện từ tất cả những gì là căn bản và những gì vẫn còn sót lại trong linh hồn. Cái gì sẽ xảy ra cho các cá nhân này khi họ đến trước Tòa Phán Xét? Liệu tất cả những dơ bẩn chồng chất trong suốt cuộc đời có bổng nhiên trở nên không còn là vấn đề nữa không? Còn điều gì khác có thể xẩy ra? Thánh Phaolô, trong Thư Thứ Nhất gửi các tín hữu thành Côrintô, đã đưa ra cho chúng ta một ý niệm về những hệ quả khác nhau trong phán quyết của Thiên Chúa tùy theo từng trường hợp cụ thể của mỗi người. Thánh Phaolô làm điều đó khi dùng những hình ảnh cách nào đó cố gắng diễn đạt sự vô hình, đó là những hình ảnh mà không có chúng, ta không thể khái quát hóa được – đơn giản là vì chúng ta chẳng thể thấy gì bên trong thế giới sau sự chết và cũng chẳng có một kinh nghiệm nào về thế giới ấy. Ngài bắt đầu bằng cách nói rằng đời sống Kitô được xây dựng trên một nền tảng chung là Đức Giêsu Kitô. Nền tảng này trường tồn. Nếu chúng ta đã đứng vững trên nền tảng này và xây dựng đời mình trên đó, chúng ta biết rằng nó không thể nào bị cất đi khỏi chúng ta ngay cả trong cái chết. Rồi ngài tiếp: “Người ta có thể dùng vàng, bạc, đá quý, gỗ, cỏ, rơm mà xây trên nền đó. Nhưng công việc của mỗi người sẽ được phơi bày ra ánh sáng. Thật thế, Ngày của Chúa sẽ cho thấy công việc đó, vì Ngày ấy tỏ rạng trong lửa; chính lửa này sẽ thử nghiệm giá trị công việc của mỗi người. Công việc xây dựng của ai tồn tại trên nền, thì người ấy sẽ được lĩnh thưởng. Còn công việc của ai bị thiêu huỷ, thì người ấy sẽ phải thiệt. Tuy nhiên, bản thân người ấy sẽ được cứu, nhưng như thể băng qua lửa.” (1 Cr 3:12-15) Trong bản văn này, hiển nhiên là trong mọi trường hợp sự cứu rỗi của chúng ta có thể có nhiều hình thức khác nhau, hiển nhiên là một số những gì đã được xây lên có thể bị thiêu hủy, và cũng hiển nhiên là để được cứu chuộc chính chúng ta phải đi qua “lửa” hầu được trở nên hoàn toàn mở ra đón nhận Thiên Chúa và có thể ngồi vào bàn tiệc cưới muôn đời. 47. Một vài thần học gia mới đây có ý kiến cho rằng lửa vừa thiêu đốt vừa cứu chuộc chính là Chúa Kitô, vị Thẩm Phán và là Đấng Cứu Thế. Cuộc gặp gỡ với Người là hành động phán xét chung cuộc. Trước ánh mắt người tất cả những gì là giả trá sẽ tan biến. Sự gặp gỡ Người trong khi thiêu đốt chúng ta, lại cải biến chúng ta, và giải thoát chúng ta, khiến cho chúng ta trở nên con người chính thật của mình. Tất cả những gì chúng ta xây dựng trong đời có thể chỉ là rơm rạ, rỗng tuếch và sụp đổ. Vậy mà trong cái đau đớn của cuộc gặp gỡ này, khi những dơ bẩn, và bệnh hoạn của cuộc đời được phơi bày ra trước mắt chúng ta, thì ơn cứu độ nằm ngay ở đó. Cái nhìn của Chúa, sự va chạm của trái tim Người chữa lành chúng ta qua một một biến cải chắc chắn là đau đớn “như đi qua lửa”. Nhưng đó là một sự đau đớn được chúc lành, trong đó quyền lực cực thánh của tình yêu Người xuyên thấu chúng ta như một ngọn lửa, giúp chúng ta trở nên hoàn toàn là chính mình và nhờ đó hoàn toàn thuộc về Chúa. Bằng cách này sự tương quan giữa công lý và ân sủng cũng trở nên rõ ràng; cách thức chúng ta sống trên đời không phải là không quan trọng, nhưng tội lỗi của chúng ta không gây tì ố trên chúng ta mãi mãi nếu ít ra chúng ta vẫn tiếp tục vươn ra để đến với Chúa Kitô, đến với sự thật và tình yêu. Thật vậy, tội lỗi đã bị thiêu đốt qua cuộc khổ nạn của Chúa Kitô. Vào lúc chung thẩm chúng ta cảm nhận và hấp thụ quyền lực vô biên của tình yêu Người trên tất cả sự dữ trong thế gian và trong chúng ta. Nỗi đau của tình yêu trở nên ơn cứu rỗi và niềm vui của chúng ta. Rõ ràng là chúng ta không thể đo lường “thời gian” của sự thiêu đốt biến cải này bằng những đơn vị đo lường thời gian của trần thế. “Giờ phút” biến cải trong cuộc gặp gỡ này vượt quá ước tính thế gian - đó là thời khắc của con tim, đó là thời gian của cuộc “vượt qua”, để tiến đến hiệp thông với Thiên Chúa qua Mình Thánh Chúa Kitô. 39 Sự phán xét của Chúa là niềm hy vọng, vì đó vừa là công lý, và vừa là ân sủng. Nếu chỉ có ân sủng mà thôi, khiến cho tất cả mọi việc trên thế gian không còn vấn đề nữa, thì Chúa sẽ mắc nợ chúng ta một câu trả lời về công lý – một câu hỏi quyết liệt chúng ta đặt ra cho lịch sử và cho Thiên Chúa. Nếu chỉ là công lý, thì cuối cùng chỉ có thể đem lại cho chúng ta sự sợ hãi. Việc Thiên Chúa nhập thể nơi Đức Kitô đã nối kết công lý và ân sủng với nhau mật thiết đến độ công lý được thiết lập vững chắc: chúng ta đều phải lo liệu cho sự cứu rỗi của mình “trong âu lo và run sợ” (Pl 2:12). Tuy nhiên, ân sủng cho phép tất cả chúng ta hy vọng, và để vững tin đi gặp vị Thẩm Phán, Đấng chúng ta biết đến như là “trạng sư”, hay parakletos (x. 1 Ga 2;1) của chúng ta. 48. Cần đề cập thêm một điều nữa ở đây, vì tầm quan trọng của nó đối với việc thực hành niềm hy vọng Kitô. Các tư tưởng Do Thái Giáo sơ khai bao gồm điều cho rằng người ta có thể giúp đỡ người quá cố trong trạng thái trung gian bằng lời cầu nguyện (chẳng hạn xem 2 Mcb 12: 38-45; thế kỷ thứ nhất trước Chúa Giáng Sinh). Thực hành tương đương đã được các Kitô hữu sẵn sàng tiếp nhận và được áp dụng chung trong Giáo Hội Đông Phương và Tây Phương. Đông Phương không công nhận sự thanh tẩy và chuộc lỗi qua sự đau khổ của các linh hồn ở đời sau, nhưng có công nhận những mức độ khác nhau của hạnh phúc và đau khổ trong trạng thái trung gian. Tuy nhiên, linh hồn của người quá cố có thể nhận được “sự an ủi và bổ sức” qua việc rước Mình Thánh, cầu nguyện và bố thí. Niềm tin cho rằng tình yêu có thể vươn tới đời sau, việc cho đi và nhận lãnh hỗ tương là có thể được, trong đó tình yêu dành cho nhau tiếp tục vượt qua cả những ranh giới của sự chết - điều này đã trở nên một xác tín của Kitô Giáo qua nhiều thời đại và ngày nay vẫn còn là một nguồn suối ủi an. Ai mà không cảm thấy cần thiết phải bầy tỏ cho người thân yêu đã ra đi một dấu chỉ của lòng tốt, một cử chỉ biết ơn hay ngay cả một lời cầu xin tha thứ? Đến đây, một câu hỏi khác được đặt ra: nếu “Luyện Ngục” chỉ đơn thuần là sự thanh tẩy trong lửa trong cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa, Đấng Phán Xét và là Đấng Cứu Chuộc, thì làm sao một người thứ ba lại có thể can thiệp, dù cho người ấy có thân cận đến đâu? Khi chúng ta đặt câu hỏi này, chúng ta phải nhớ rằng không ai là một ốc đảo sống hoàn toàn biệt lập một mình. Đời sống chúng ta có liên quan đến nhau, qua biết bao nhiêu những giao tiếp, chúng được liên kết lại với nhau. Không ai sống một mình. Không ai phạm tội một mình. Không ai được rỗi một mình. Đời sống của người khác tiếp tục tuôn đổ trên tôi trong ý nghĩ, lời nói, việc làm và thành đạt. Và ngược lại, đời tôi tuôn đổ trên những người khác: dù tốt hay xấu. Do đó, lời cầu nguyện tôi dâng cho người khác không phải là một cái gì ngoại tại với người ấy, dù cả sau cái chết. Trong sự liên kết với nhau của Hữu Thể, lòng biết ơn đối với người khác - lời kinh dâng cho họ - có thể đóng một vai trò nhỏ trong sự thanh tẩy của họ. Và vì không cần phải hoán đổi thời giờ thế gian thành thời giờ của Chúa vì trong sự hiệp thông của các linh hồn thời giờ trần thế bị lấn lướt. Không bao giờ được coi là quá trễ để chạm đến trái tim của người khác, và cũng không bao giờ là vô ích. Bằng cách này chúng ta làm rõ thêm một yếu tố quan trọng trong khái niệm hy vọng của Kitô Giáo. Niềm hy vọng của chúng ta luôn luôn về căn bản là niềm hy vọng của người khác: chỉ như thế nó mới thật sự là niềm hy vọng của cả tôi nữa. 40 Là Kitô hữu chúng ta không bao giờ được tự giới hạn mình để chỉ biết hỏi: làm sao để tôi được cứu rỗi? Chúng ta phải nên hỏi: tôi phải làm gì để cho người khác có thể được cứu chuộc, và để cả trong họ ngôi sao hy vọng có thể vươn lên? Như thế tôi cũng đã làm hết sức mình cho việc cứu rỗi của chính mình. Ban hành tại Rôma, tại Đền Thánh Phêrô, ngày 30 tháng 11, ngày Lễ Kính Thánh Anrê Tông Đồ, năm 2007, năm thứ ba của triều đại Giáo Hoàng + Đức Giáo Hoàng Bênêđictô. XVI 1 Corpus Inscriptionum Latinarum VI, no. 26003. 2 Cf. Dogmatic Poems, V, 53-64: PG 37, 428-429. 3 Cf. Catechism of the Catholic Church, 1817-1821. 4 Summa Theologiae, II-IIae, q.4, a.1. 5 H. Kưster in Theological Dictionary of the New Testament VIII (1972), p.586. 6 De excessu fratris sui Satyri, II, 47: CSEL 73, 274. 7 Ibid., II, 46: CSEL 73, 273. 8 Cf. Ep. 130 Ad Probam 14, 25-15, 28: CSEL 44, 68-73. 9 Cf. Catechism of the Catholic Church, 1025. 10 Jean Giono, Les vraies richesses (1936), Preface, Paris 1992, pp.18-20; quoted in Henri de Lubac, Catholicisme. Aspects sociaux du dogme, Paris 1983, p.VII. 11 Ep. 130 Ad Probam 13, 24: CSEL 44, 67. 12 Sententiae III, 118: CCL 6/2, 215. 13 Cf. ibid. III, 71: CCL 6/2, 107-108. 14 Novum Organum I, 117. 15 Cf . ibid. I, 129. 16 Cf . New Atlantis. 17 In Werke IV, ed. W. Weischedel (1956), p.777. 18 I. Kant, Das Ende aller Dinge, in Werke VI, ed. W.Weischedel (1964), p.190. 19 Chapters on charity, Centuria 1, ch. 1: PG 90, 965. 20 Cf. ibid. : PG 90, 962-966. 21 Conf. X 43, 70: CSEL 33, 279. 22 Sermo 340, 3: PL 38, 1484; cf. F. Van der Meer, Augustine the Bishop, London and New York 1961, p.268. 23 Sermo 339, 4: PL 38, 1481. 24 Conf. X 43, 69: CSEL 33, 279. 25 Cf. Catechism of the Catholic Church, 2657. 26 Cf. In 1 Ioannis 4, 6: PL 35, 2008f. 27 Testimony of Hope, Boston 2000, pp.121ff. 28 The Liturgy of the Hours, Office of Readings, 24 November. 29 Sermones in Cant., Sermo 26, 5: PL 183, 906. 30 Negative Dialektik (1966), Third part, III, 11, in Gesammelte Schriften VI, Frankfurt am Main 1973, p.395. 31 Ibid., Second part, p.207. 32 DS 806. 33 Cf. Catechism of the Catholic Church, 988-1004. 34 Cf. ibid., 1040. 35 Cf. Tractatus super Psalmos, Ps 127, 1-3: CSEL 22, 628-630. 36 Gorgias 525a-526c. 37 Cf. Catechism of the Catholic Church, 1033-1037. 38 Cf. ibid., 1023-1029. 39 Cf. Catechism of the Catholic Church, 1030-1032. 40 Cf. Catechism of the Catholic Church, 1032. © Copyright 2007 - VietCatholic Network Bản dịch Việt Ngữ của VietCatholic Network.
Gs. Gioan Maria Bùi Hữu Thư
|