|
THỦ BẢN GIA ĐÌNH TẬN HIẾN ĐỒNG CÔNG |
|
Không để được phục
vụ nhưng để phục vụ |
| Phần III |
|
Tóm Lược NHỮNG ĐỀ TÀI HỌC TẬP TRONG TUẦN TĨNH TÂM |
|
Dọn Mình TẬN HIẾN CHO ĐỨC MẸ & gia nhập GIA ĐÌNH TẬN HIẾN ĐỒNG CÔNG |
|
ĐỀ TÀI I
1. Vài quan niệm sai lầm về ơn gọi nên thánh - Nên thánh chỉ dành cho bậc tu trì. - Nên thánh, một lý tưởng cao vời chỉ dành cho những người được ơn phi thường, vì “thánh nhân dị chúng nhân” như: làm phép lạ, ngất trí, tiên tri… - Nên thánh chỉ dành cho những người có bản chất tốt lành, có các đức tính thiên phú, có xu hướng tự nhiên tốt, chỉ dùng cho những phuơng thế đặc biệt : xa lánh thế gian, ăn chay, đánh tội, hãm mình … 2. Quan niệm đúng về ơn gọi nên thánh - Nên thánh là nghĩa vụ của mọi Kitô hữu: Vì có lệnh Chúa truyền : “Các con hãy nên thánh, vì Ta là Thánh” (Lv 19,2) – “Các con hãy nên trọn lành như Cha là Đấng Trọn Lành” (Mt 5,48) – “Anh em hãy nên thánh trong cách ăn nết ở, như Đấng Thánh đã kêu gọi anh em, vì có lời Kinh Thánh chép: “Hãy sống thánh thiện vì Ta là Đấng Thánh” (Pr 15-16) – “Anh em hãy cố gắng trở nên thánh thiện, vì không có thánh thiện thì sẽ không được thấy Thiên Chúa” (Dt 12,14). - Công đồng Vatican II nói : “Hết mọi Kitô hữu đã được rửa tội trong Giáo Hội Công Giáo, dù ở địa vị nào, bậc sống nào, hoàn cảnh nào… đều được Thiên Chúa mời đạt đến sự trọn lành thánh thiện như Thiên Chúa Cha là Đấng Thánh, tuỳ theo con đường mỗi người, tuỳ theo ơn gọi, bậc sống mình…” (LG 11). 3. Cốt yếu việc nên thánh là Đức Ái - Lời Chúa trong Tin Mừng : Mến Chúa, yêu người (Mt 22, 37-39). - “Giả như tôi có nói được các thứ tiếng của loài người và của các thiên thần … mà không có Đức Mến, thì cũng chẳng ích gì cho tôi” (Cr 13,1-13) - Thánh Phaolô: “Thánh là người sống Đức Ái hoàn hảo; ai chu toàn Đức Ái, người đó chu toàn lề luật” (x. Rm 13,10). - “Con đường nên thánh của tôi là luôn chu toàn bổn phận hằng ngày và sống vui vẻ” ( Thánh Đaminh Saviô)… 4. Thực hành sự thánh thiện bằng những phương thế : - Lòng ước muốn nên thánh: “Khi Chúa tạo dựng nên ta, Ngài không cần hỏi ý kiến ta. Nhưng để thánh hoá ta, Ngài cần ta cộng tác” (Thánh Augustinô). - Cầu nguyện với tâm tình khiêm tốn và kiên trì, vì “Không có Ta, các con không thể làm gì được” (Ga 15,5) – “Ai tự nhắc mình lên sẽ bị hạ xuống,và ai tự hạ mình xuống sẽ được nâng lên” (Lc 18,14) – “Ai bền đỗ đến cùng thì sẽ được cứu” (Mt 24,13). - Năng lãnh nhận Bí Tích Giải Tội, Thánh Thể. - Lắng nghe và thực hành Lời Chúa. - Từ bỏ mình (tiêu cực): bỏ cái “tôi”, hãm dẹp tự ái, bớt nóng nảy, nói hành, giận dỗi ghen tương, ích kỷ… - Thực hành Đức bác ái (tích cực): tha thứ, vui vẻ, tận tình…: “Nếu ai nói mình yêu Chúa mà lại ghét tha nhân là kẻ nói dối, vì tha nhân là kẻ ở gần… mà ta không yêu thì làm sao yêu Đấng Vô Hình?” (1Ga 4, 20 -21). - Tận hiến cho Mẹ : Mẹ là gương mẫu đường trọn lành. Như ở tiệc cưới Cana, Mẹ sẽ trợ giúp chúng ta. 5. Gương Mẫu các Thánh. - Thánh nhân là tội nhân sám hối (gương Madalena, Phêrô, Augustinô, người trộm lành …) - Với ơn Chúa giúp ai cũng có thể nên thánh.
ĐỀ TÀI II TẬN HIẾN ĐỒNG CÔNG
1. Danh hiệu – Mục đích – Phương thế. 2. Điều kiện người gia nhập – Nghi thức gia nhập. 3. Thực hành đời Tận Hiến : Bề ngoài – Bề trong 4. Nhiệm vụ cha mẹ với việc tận hiến gia đình. 5. Tĩnh tâm và họp mặt chia sẻ.
ĐỀ TÀI III
1/ Lược sử lòng tôn sùng Đức Mẹ - Chúa Giêsu đã khai mở con đường thơ ấu thiêng liêng: a. Người đã nhập thể trong lòng Trinh Nữ Maria và đã làm người (Kinh Tin Kính). b. Nếu các ngươi không trở nên như trẻ nhỏ… c. “Thiên Chúa đã sai Con của Ngài sinh hạ bởi người phụ nữ …” (Gl 4, 4-7). - Chúng ta sống bé nhỏ với Thiên Chúa qua sự lệ thuộc vào Đức Mẹ: để Mẹ cưu mang, bú mớm, dạy dỗ, săn sóc… Chúa Giêsu đã sống với Đức Mẹ đúng như một trẻ thơ. - Chúa Giêsu đã dạy chúng ta về sự lệ thuộc Mẹ, qua lời trối với môn đệ yêu dấu (Ga 19, 25-27). - Các thánh : Augustinô, Bênađo, Bônaventura, Anselmo… đều quả quyết: muốn được cứu rỗi cần phải tôn sùng Mẹ Maria. Và theo Thánh Luy Maria đệ Mông-pho, lòng thành thực tôn sùng Mẹ Maria ở tại việc tận hiến cho Đức Mẹ (TTSK số 40). - Mẹ cũng nói ở Fatima : “Thiên Chúa muốn thiết lập lòng tôn sùng Trái Tim Mẹ Maria trên khắp thế giới” (1917) và với Lucia: “Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ là nơi con nương ẩn, và là đường đưa con đến với Chúa”. Tận hiến cho Mẹ là cách tôn sùng đặc biệt. - Các Đức Thánh Cha với lòng tôn sùng Mẹ : Đức Piô XII trong Thông điệp Auspicia Quaedam (1.5.1948) đã kêu gọi: “Ta ước mong rằng mỗi hoàn cảnh cho phép, ngưòi ta hãy thực hiện việc tận hiến trong các giáo phận, giáo xứ và các gia đình. Và ta hy vọng rằng, sẽ lôi kéo được vô số ơn lành và ân huệ của trời cao nhờ việc tận hiến chung cũng như riêng đó…” - Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II ngày 25.3.1984 đã long trọng dâng toàn thể thế giới cho Mẹ tại quảng trường Rôma. - Ở Việt Nam tuy đã manh nha từ năm 1843, phong trào tận hiến cho Mẹ khởi sắc từ năm 1947 và đã phát triển đến ngày nay (nơi các hội đoàn: Legio, Đạo Binh, Con Đức Mẹ…). 2/ Nền tảng việc Tận hiến cho Trái Tim Mẹ : 1. Mẹ Thiên Chúa : Nền tảng việc sùng kính Mẹ Maria trước hết và chính yếu là đặc ân Mẹ Thiên Chúa. - Mẹ chỉ sinh ra Chúa Giêsu về nhân tính, không sinh ra thiên tính của ngôi Hai, nhưng cả hai bản tính kết hợp đặc biệt với nhau trong một ngôi vị là Ngôi Hai Thiên Chúa, nên Mẹ được gọi là Mẹ Thiên Chúa. - Mẹ thật sự trở thành Mẹ Chúa khi thưa “Xin Vâng” (Lc 1,38). Bà thánh Elizabeth, đầy ơn Chúa Thánh Thần, đã tuyên xưng Mẹ là Mẹ Thiên Chúa (Lc 1,43). - Năm 431, công đồng Ephêsô tuyên tín Mẹ Maria là Mẹ Thiên Chúa. Kinh Trông Cậy, kinh Kính Mừng (kinh cổ thời nhất về Đức Mẹ) Giáo Hội dạy chúng ta tuyên xưng và ca tụng Mẹ là Mẹ Chúa Trời. - Mẹ Thiên Chúa là nền tảng quan trọng nhất của việc Tận hiến cho Mẹ Maria. 2. Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội. - Đặc ân này làm cho Mẹ, ngay từ lúc đầu thai trong lòng Bà Thánh Anna, đã không hề vướng mắc tội tổ tông cũng không hề lây nhiễm hậu quả nào của tội nguyên tổ. - Ngày 8-12-1854, Đức Piô IX đã tuyên bố tín điều này. - Đức Gioan-Phaolô II đã quả quyết: “Từ phẩm chức Thiên Mẫu xuất phát tất cả mọi ơn phúc đã được ban cho Rất Thánh Trinh Nữ Maria, mà ơn đầu tiên là đặc ân Vô Nhiễm” (14-12-1982). 3. Mẹ Đồng Công Cứu Chuộc - Đồng Công là sứ mệnh đặc biệt của Mẹ Maria. Ông Simêon, được ơn Chúa Thánh Thần, đã tuyên bố rõ ràng sứ mệnh Đồng Công của Mẹ: “Một lưỡi gươm sẽ đâm thấu tâm hồn Bà” (Lc 2,35). - Mẹ Đồng Công được thể hiện đặc biệt khi Mẹ đứng dưới chân Thánh Giá Chúa trên Đồi Canvê.- Chúa Giêsu đã làm hai phép lạ chứng tỏ việc Mẹ Đồng Công: thánh hoá Gioan trong lòng Bà Elizabeth và biến nước thành rượu tại tiệc cưới Cana ( Chúa đã làm vì có sự cộng tác của Mẹ). - Mẹ thật là Đấng Đồng Công : Lời Thánh Giáo Hoàng Piô X trong kinh đền tạ Thánh Tâm Chúa Giêsu và lời Đức Piô XII trong kinh đền tạ Trái Tim Mẹ. Công Đồng Vaticanô II, trong Hiến Chế Ánh Sáng Muôn Dân (số 56-61) đã nhiều lần xác nhận vai trò cộng tác của Mẹ vào công trình của Đấng Cứu Thế. - Mẹ tiếp tục việc Đồng Công ở trên trời: “Sau khi về trời, vai trò của Mẹ trong việc cứu độ không chấm dứt, nhưng Ngài vẫn tiếp tục liên lỉ cầu bầu để đem lại cho chúng ta những ân huệ giúp chúng ta được phần rỗi đời đời” (LG 62). 4. Mẹ Giáo Hội : - Mẹ làm Mẹ Giáo Hội khi nhận làm Mẹ Chúa Giêsu: “Đức Maria, với tư cách là Mẹ Đức Kitô cũng là Mẹ của tất cả mọi tín hữu và các chủ chăn, nghĩa là Giáo Hội” (Đức Phaolô VI ). - Mẹ là Mẹ Giáo Hội khi đứng dưới chân Thánh Giá Chúa Kitô: “Đây là con Bà … Đây là Mẹ con” (Ga 19, 26-27). - Mẹ là Mẹ Giáo Hội khi ở nhà Tiệc Ly, ngày Chúa Thánh Thần hiện xuống. - Ngày 21-11-1964, Đức Phaolô VI đã long trọng tuyên xưng Đức Maria là Mẹ Giáo Hội. 5. Mẹ là Đấng Trung gian mọi ơn thánh : - “Vai trò tuỳ thuộc (vào Đấng Trung gian duy nhất là Chúa Giêsu) của Đức Maria, Giáo Hội không ngần ngại tuyên xưng, mà luôn nghiệm thấy và nhắn nhủ các tín hữu ghi nhớ trong lòng, để nhờ sự nâng đỡ và phù hộ từ mẫu của Mẹ, họ gắn bó mật thiết hơn với Đấng Trung Gian và Cứu Thế” (LG 62). - Đức Piô IX viết: “Nơi nương ẩn vững chắc và bảo đảm: đó là Đấng Trung Gian uy thế nhất của thế giới với Con của Mẹ” (Thông điệp Ineffabilis Deus ). - Thánh Mông-Pho quả quyết: “Chúng ta cần phải có một vị trung gian bên cạnh Đấng Trung Gian là Chúa Kitô, chính Mẹ Maria rất thánh là người có khả năng hơn cả để chu toàn nhiệm vụ bác ái này. Chúa Giêsu Kitô đã nhờ Mẹ mà đến với chúng ta, thì chúng ta cũng phải nhờ Mẹ để có thể đến với Chúa Kitô” (TTSK 85). 6. Mẹ là Nữ Vương các tâm hồn : - “Sau khi hoàn tất cuộc đời dưới thế, Đức Trinh Nữ Vô Nhiễm đã được đưa lên hưởng vinh quang trên trời cả hồn lẫn xác, và được Thiên Chúa tôn vinh làm Nữ Vương Vũ Trụ, để nên giống Con Ngài trọn vẹn hơn” (LG 59). - “Cũng như vương quốc của Chúa Kitô chủ yếu là ở trong tâm hồn mọi người… Cũng vậy, vương quyền của Mẹ Maria chủ yếu là ở trong tâm hồn con người; chính trong các tâm hồn, Mẹ Maria được tôn vinh với Con Chí Thánh mình, hơn là nơi các tạo vật hữu hình. Cho nên chúng ta có thể cùng với các thánh gọi Mẹ là Nữ Vương các tâm hồn” (TTSK 38 ). 3/ Tận hiến là gì ? - Tận hiến là dâng hết, dâng trọn vẹn, không giữ lại chút gì. Một người được gọi là tận hiến cho người khác, khi trao phó trót mình cho người đó, hoàn toàn lệ thuộc người đó, như nô lệ đối với chủ. - Sự vật tận hiến cho Thiên Chúa như Bình Thánh, chén thánh, nhà thờ … Người tận hiến cho Thiên Chúa là các tu sĩ, linh mục, giám mục … Đây là việc tận hiến theo nghĩa hẹp, thuộc Đức Thờ Phượng. - “Tận hiến cho Trái Tim Mẹ là nhờ Mẹ tận hiến cho Thiên Chúa, Đấng Thánh Thiện vô cùng” (Đức Gioan-Phaolô II, ngày 13.5.1982 tại Fatima). Nên tận hiến cho Mẹ là việc tận hiến theo nghĩa rộng, là việc sùng kính thuộc lòng đạo đức. - “Tận hiến cho Mẹ Maria, vì Chúa luôn ở với Mẹ và Mẹ luôn ở với Chúa, và Mẹ không thể không ở với Ngài, nếu không, Mẹ Maria sẽ không còn là Mẹ Chúa nữa….” (TTSK 63 ). 4/ Tận hiến những gì : - Thân xác (các cơ năng nội và ngoại quan). - Linh hồn (các tài năng: trí khôn, trí nhớ và ý muốn). - Của cải trần gian hiện tại và tương lai. - Của cải thiêng liêng (công nghiệp, nhân đức, việc lành), quá khứ, hiện tại, tương lai và các giá trị của chúng. - Tính mê, khuyết điểm và tội lỗi. - Hành động và chịu đựng. - Sự sống và sự chết. Tận hiến làm cho ta trở thành “Tất cả là của Mẹ” (Totus tuus). “Chúng ta không còn tự quyền định đoạt gì về giá trị các việc lành phúc đức của mình, nhưng hoàn toàn để Mẹ định đoạt theo ý Chúa Kitô, mang lại vinh quang cho Chúa” (TTSK 124). 5/ Mục đích Tận Hiến cho Trái Tim Mẹ : - Chúa Kitô là mục đích chủ yếu của việc tận hiến. Ngài là khởi đầu và tận cùng của mọi tạo vật. Việc tận hiến cho Mẹ nhất định đưa ta đến gặp Chúa cách tuyệt hảo, yêu mến Chúa cách thiết tha và phụng sự Chúa cách chân thành. - Tận hiến để nhờ Mẹ đến với Chúa (Per Mariam ad Jesum). - Làm con yêu dấu của Mẹ. Chúng ta tự bày tỏ lòng yêu mến Mẹ cách đặc biệt bằng việc tận hiến, để thuộc trọn về Mẹ hơn, chắc chắn Mẹ sẽ đón nhận chúng ta như những người con yêu dấu đặc biệt hơn, để thánh hoá chính mình. - Làm tông đồ Chúa Giêsu và Mẹ, cho nước Chúa và Mẹ hiển trị. Biết bao người chưa nhận biết và tôn thờ Chúa. Chúng ta phải là những tông đồ dẫn họ đến với Chúa và với Mẹ để làm vinh danh Chúa. 6/ Giá trị cao quý của việc Tận Hiến - Tính chất tuyệt hảo của việc Tận hiến cho Chúa Kitô nhờ Mẹ : trọn vẹn phụng sự Thiên Chúa. - Tận hiến cho Mẹ là thuộc trọn về Chúa Kitô hơn: theo gương Chúa Kitô thực hành Đức Khiêm Nhượng. - Các con tận hiến luôn được Mẹ chăm sóc, vì Mẹ đầy tình thương; vì Mẹ thanh tẩy và làm đẹp các việc lành của chúng ta; vì Mẹ xin Chúa vui nhận của lễ chúng ta dâng. - Tận hiến cho Mẹ là con đường dễ dàng nhất, ngắn nhất, hoàn hảo nhất và chắc chắn nhất đến với Chúa Kitô. - Tận hiến mang lại cho chúng ta sự tự do nội tâm lớn lao. - Tận hiến mang lại những lợi ích lớn lao cho đồng loại. - Tận hiến là một cách thế tuyệt diệu để được ơn bền vững. 7/ Thực hành Tận Hiến : a. Các việc bên ngoài : Tĩnh tâm cầu nguyện chuẩn bị tận hiến – Xưng tội rước lễ sốt sắng – Tận hiến theo nghi thức riêng – Giữ điều lệ GĐTHĐC 11-16. b. Các việc bên trong : Giữ điều lệ GĐTHĐC 17-23. - Làm mọi việc nhờ Mẹ Maria: Cư xử theo tinh thần Mẹ : nghĩa là không hành động theo ý riêng và phó thác tâm hồn ta cho Mẹ để Mẹ hướng dẫn theo ý Mẹ. - Làm mọi việc với Mẹ Maria: Nhìn lên Mẹ như khuôn mẫu tuyệt hảo của mọi nhân đức và sự trọn lành: Đức Tin, Đức Khiêm Nhượng, Đức Ái, Đức Nhẫn Nại … Nếu ở địa vị ta Mẹ sẽ làm như thế nào. - Làm mọi việc trong Mẹ Maria: Vui sướng an nghỉ trong Mẹ, sống tin cậy hoàn toàn nơi Mẹ, ẩn náu trong Mẹ với hết lòng tin tưởng, phó thác. - Làm mọi việc vì Mẹ Maria: Vì đã tận hiến toàn thân cho Mẹ, nên phải làm mọi việc vì Mẹ là điều hợp lý. Chúng ta phải bênh vực vinh quang Mẹ, tìm mọi cách lôi kéo nhiều người đến phụng sự, tôn kính và yêu mến Mẹ (TTSK 256), cố gắng thực thi và truyền bá những lời Mẹ dạy, nhất là ba mệnh lệnh Mẹ ban tại Fatima năm 1917, cải thiện đời sống, lần hạt Mân Côi và tôn sùng Trái Tim Mẹ.
ĐỀ TÀI IV
1/ Nguồn gốc của Gia Đình : a. Do Thiên Chúa thiết lập - Trình thuật công trình sáng tạo Adong, Eva từ bùn đất (St 1, 26-31) - Con người được dựng nên theo hình ảnh của Thiên Chúa. - Chúa truyền cho nguyên tổ, hãy tiếp tục công trình sáng tạo của Thiên Chúa qua việc sinh sản, bảo tồn con người. b. Do Thiên Chúa thánh hoá - Chúa Giêsu đã nâng Hôn Nhân lên hàng Bí Tích hầu giúp cho đôi bạn công giáo chu toàn bổn phận và nên thánh. - Nhất phu nhất phụ (Mt 19, 3-9) - Bất khả phân ly, cấm ly dị : Điều mà Thiên Chúa liên kết, loài người không được phân ly (Mt 19,6). - Tiệc cưới Cana, có Chúa Giêsu, Đức Mẹ, các tông đồ hiện diện… Hình ảnh diễn tả hạnh phúc của hôn nhân công giáo nếu có Thiên Chúa hiện diện. 2/ Mục đích hôn nhân - Vợ chồng yêu thương trọn đời: chân thành, vị tha, quảng đại, tin tưởng và hy sinh cho nhau, giúp nhau phát triển đức ái. - Sinh sản và giáo dục con cái: Hãy sinh sôi nảy nở cho đầy mặt đất (St 1,28). Sinh sản là hồng ân tạo dựng tuyệt vời mà Thiên Chúa muốn chia sẻ cho loài người, là ơn gọi cao quý của hôn nhân (Thông điệp sự sống con người số 8-9). - Để cộng đồng nhân loại ngày càng đông đảo. - Để loài người nối tiếp nhau quản trị vạn vật theo ý định của Thiên Chúa. - Để phát triển Hội Thánh, là nhiệm thể Đức Kitô. 3/ Bản tính Gia Đình : - Gia đình là phản ảnh tình yêu giữa Chúa Kitô và Hội Thánh (Ep 5, 24-30), gia đình là cộng đoàn yêu thương. - Gia đình là tế bào đầu tiên của xã hội : Gia đình có mạnh khoẻ tốt lành thì xã hội mới tốt đẹp được (Tông huấn về gia đình số 42) - Gia đình là cung thánh sự sống : Sự sống mới được phát sinh từ tình yêu vợ chồng. Sự sống ấy cần được nuôi dưỡng, bảo vệ để lớn lên và phát triển hài hòa. Sự sống tinh thần, siêu nhiên là sự sống phong phú và cao cả hơn sự sống thể lý, mà ngày nay đang bị đe doạ bởi tình trạng nạo phá thai, ly hôn, khủng hoảng đạo đức do sách báo, phim ảnh… (Tông huấn về gia đình số 28-35 và Thông điệp sự sống con người số 14). - Gia đình là trường đào tạo các đức tính nhân bản và đức tin. Gia đình sống đạo đức là chủng viện đầu tiên ( Tông huấn về gia đình số 60 và Hiến chế mục vụ số 52) điển hình như Têrêxa Hài Đồng Giêsu, Augustinô có mẹ là Thánh Mônica… - Gia đình là Giáo Hội nhỏ, Giáo Hội tại gia : tức là một cộng đoàn thờ phượng Thiên Chúa, sống các Bí Tích và luật bác ái yêu thương. Giáo Hội này có đủ các sắc thái, tính chất, sứ vụ, trách nhiệm trong khuôn khổ nhỏ hơn là gia đình (Hiến chế tín lý số 11). - Gia đình là mầu nhiệm lớn lao của Thiên Chúa. - Gia đình là cộng đồng các ngôi vị (Tông huấn về gia đình số 15-21 và Hiến chế mục vụ số 24). 4/ Mẫu gương các gia đình : Thánh Gia Nagiarét. - Thánh Giuse, mẫu gương người gia trưởng : khôn ngoan, trung tín, vâng phục Thánh ý Chúa. Ngài là Đấng công chính, trong sạch, đơn sơ, trầm lặng, chuyên cần. - Mẹ Maria, mẫu gương cho các bà mẹ : khiêm nhượng thẳm sâu; Tin, Cậy, Mến, vâng phục trọn vẹn. Mẹ là thiếu nữ đoan trang đạo hạnh, một người vợ đảm đang chung thủy, là người mẹ dịu hiền yêu thương… - Chúa Giêsu trong 30 năm nơi mái nhà Nagiarét, mẫu gương cho những người làm con (Lc 2, 51-52). 5/ Đức tính phải có nơi cha, mẹ : - Vai trò người chồng, người cha : tự thắng mình, kiềm chế dục vọng, ích kỷ, nhỏ nhen. Tránh chủ quan, độc đoán, độc quyền. Đồng thời, cố gắng dịu dàng trong lời nói, lịch sự trong cư xử, cảm thông, tôn trọng người vợ và con cái. - Vai trò người mẹ, người vợ : Nếu người chồng là rường cột chống đỡ gia đình thì người vợ là sợi dây thân ái ràng buộc mọi người trong yêu thương, hạnh phúc. Nếu người chồng là người vạch kế hoạch, tạo điều kiện kinh tế cho gia đình, thì người vợ là người quản lý sắp xếp mọi công việc trong nhà. Nếu người chồng là khối óc chỉ huy như thuyền trưởng con tàu, thì người vợ chính là một tài công khéo léo. Nếu người chồng là biểu tượng của quyền uy, là khuôn mẫu và kỷ luật, thì người vợ là sự dịu dàng, cởi mở để con cái được thoải mái dễ chịu trong khuôn khổ gia đình. - Vợ chồng luôn biết kính trọng nhau; luôn thông cảm và tha thứ cho nhau; cố gắng hy sinh quên mình, luôn quan tâm đến nhau và cùng nhau quan tâm giáo dục con cái… là trách nhiệm cao cả mà chính họ đã cam kết tuân giữ trước mặt Chúa và Hội Thánh, khi cử hành Hôn lễ. 6/ Giáo dục con cái - Gia đình là trường học đầu tiên dạy các đức tính xã hội, mà không một đoàn thể nào khác có thể vượt qua được. Đó là vinh dự cho cha mẹ công giáo, vì được cộng tác với Thiên Chúa và trở thành những người diễn đạt Tình Yêu của Ngài (Tông huấn về gia đình số 56 và tuyên ngôn về giáo dục Kitô giáo số 3). - Nhưng trước hết, cha mẹ phải thăng tiến chính bản thân trước; phải nêu gương về nhân cách, đạo đức và các khả năng khác. Cha mẹ phải nhất trí trong đường hướng và phương thức giáo dục con cái; tạo bầu khí lành mạnh, thánh thiện trong gia đình. - Cùng nhau quan tâm giáo dục con cái: - về tôn giáo (cách sống đạo, cầu nguyện, dự các bí tích) - về ngôn từ văn hoá (cư xử lễ độ, theo dõi và khích lệ việc học hành, chọn và kiểm soát sách báo, phim ảnh…) - về các đức tính tốt (cần, kiệm, liêm, chính, nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, công, dung, ngôn, hạnh). Đồng thời, biết khiển trách và sửa phạt kịp thời trong yêu thương. 7/ Gia đình sống tận hiến - “Mục đích của Gia Đình Tận Hiến Đồng Công là luyện tập cho mọi người trong gia đình biết sống thánh thiện theo gương mẫu gia đình Thánh Gia Thất” (Điều 2), và “phương thế sống thánh thiện là tận hiến cho Trái Tim Mẹ và noi gương các nhân đức Mẹ” (Điều 4). - Với Chúa và Đức Mẹ: luôn sống Tin, Cậy, Mến, giữ mười giới răn, chuyên chăm tham dự Thánh lễ, lãnh các bí tích. Đặt Thiên Chúa và Đức Mẹ làm chủ gia đình. - Tôn kính, yêu mến, trung thành với Đức Thánh Cha và Giáo Hội. Luôn hiệp nhất và cộng tác với các chủ chăn trong việc xây dựng giáo xứ, giáo phận tốt đẹp. - Luôn thảo hiếu, trọng kính nội ngoại, cha mẹ hai bên; giữ tình thiết nghĩa với bà con họ hàng, và hàng xóm láng giềng. - Dạy con biết cầu nguyện. Khích lệ, động viên, tạo điều kiện cho con cái tham gia các hội đoàn, sinh hoạt trong giáo xứ, xã hội… - Tích cực duy trì giờ kinh tối gia đình.
ĐỀ TÀI V
1/ Bí tích yêu thương và tha thứ : - Vì tình thương và tha thứ mà Chúa lập ra Bí Tích Hòa Giải. Bí tích này giúp chúng ta trở về với sự hoán cải nội tâm để sống trong tình con thảo với Chúa là Cha. 2/ Điều kiện để lãnh nhận Bí Tích Hòa Giải. a. Chuẩn bị xa : Để lãnh Bí Tích Hòa Giải cho nên, chúng ta phải thực hiện việc hòa giải với ba đối tượng sau đây: - Hòa giải với Chúa : thực lòng gớm ghét và xa tránh mọi tội lỗi, để sống trong tình con thảo với Chúa. - Hòa giải với tha nhân : thực lòng tha thứ cho những người làm mất lòng mình (nhất là khi họ đã nhận lỗi) và sẵn sàng xin lỗi, làm hòa với người mình gây nên bất hòa, xích mích. - Hòa giải với chính mình : sống bình an thanh thản, vì Chúa – qua vị linh mục – sẽ tha thứ cho tội lỗi chúng ta. Không gặm nhấm, không tự áy náy, tự dày vò chính mình. b. Chuẩn bị gần : Để lãnh Bí Tích Hòa Giải, chúng ta cần : - Xét mình : xét xem các tội mình phạm mất lòng Chúa như thế nào (nên lưu ý cách riêng tội về lời nói: vu khống, bỏ vạ cáo gian, gây chia rẽ và tội lỗi Đức Hiếu thảo với ông bà, cha mẹ). - Ăn năn tội : có hai thứ ăn năn tội : cách trọn và cách chẳng trọn. - Xưng tội và dốc lòng chừa : buộc phải xưng các tội trọng. Cũng nên xưng các tội nhẹ để linh mục chỉ dạy cách chừa cải. (Lưu ý: chỉ xưng tội mình phạm chứ không xưng tội người khác). - Việc đền tội : mau mắn làm ngay việc đền tội kẻo quên. Về phép công bằng : lấy của ai, hoặc nợ nần ai phải dốc quyết đền trả mới được tha hoàn toàn. Nếu lỡ nói hành, vu khống ai, phải tìm cách đền bù, như chữa lỗi cho họ, đề cao các đức tính của họ… 3/ Hậu quả của tội lỗi : a. Tội nhẹ tai hại : tội nhẹ cũng như các căn bệnh nhẹ, không làm chết con người nhưng khiến cuộc sống khó chịu, làm thân thể không khoẻ mạnh. Tội nhẹ cũng vậy, không làm chết linh hồn, nhưng khiến linh hồn trở nên èo ọt, kém sức và khó chống trả khi gặp cám dỗ nặng. b. Tội nặng nguy hiểm : tội nặng là cố tình phạm một điều nặng mà ta đã biết. Nó là chứng ung thư làm chết linh hồn, mất sự sống siêu nhiên, làm linh hồn mất hạnh phúc đời đời và vô hiệu hoá các việc lành ta làm. Ta chỉ có thể phục hồi sự sống siêu nhiên bằng việc xưng tội. 4/ Ích lợi của việc xưng tội. - Tự ta không nối lại Tình Yêu Thiên Chúa nhưng chính là Chúa đến với ta trước, như người cha tha cho đứa con hoang đàng. Hãy nhớ lời Thánh Phaolô: “Đấng không hề biết tội thì Thiên Chúa làm thành sự tội để ta được giải án tuyên công, nghĩa là được đồng hoá với sự thánh thiện của Thiên Chúa” (1 Cr 5, 21). - Việc xưng tội giúp chúng ta sống lại tình con thảo với Chúa là Cha. Nó cũng giúp chúng ta được nhiều ơn Chúa để chừa bỏ tội nhẹ; phục hồi sự sống siêu nhiên mà ta làm mất khi phạm tội nặng. Ngoài ra, việc xưng tội còn đem lại sự bình an, thư thái cho tâm hồn, làm cuộc sống thiêng liêng dễ thăng tiến. Chính vì thế có nhiều vị thánh năng xưng tội (Mẹ Têrêxa Calcutta xưng tội mỗi ngày một lần).
ĐỀ TÀI VI 1/ Thánh Thể : Bí Tích Tình Yêu - Thánh Thể là chính tình yêu của Chúa Giêsu, bởi vậy, đây là Bí Tích Tình Yêu, Bí Tích chứa đựng chính Đấng là Tình Yêu (Ga 4,8) và là Đấng yêu thương ta tới cùng (Ga 13,1). - Thánh Thể là Chúa Giêsu ở giữa chúng ta (Emmanuel), là Chúa Giêsu hiện diện trong Nhà Chầu nơi các thánh đường, với Mình, Máu, Linh Hồn và Thiên Tính của Ngài, là Chúa Giêsu hiện diện cách thể lý và thực tại, trong Bánh đã truyền phép, để ngự giữa ta, hành động trong ta và cho ta. - Chúa Giêsu Thánh Thể ở lại với ta như là người anh, người bạn, vị hôn phu của linh hồn. Ngài muốn vào lòng ta như lương thực ban sự sống đời đời, như tình yêu, như sự nâng đỡ ta. Ngài muốn ta trở nên như phần thân thể mầu nhiệm Ngài. Ở đó, Ngài muốn cứu rỗi ta, đem ta về Thiên Đàng để đặt ta trong biển Tình Yêu vĩnh cửu. - Với Thánh Thể, Thiên Chúa chân thật đã cho ta mọi sự. Thánh Augustinô kêu lên: “Dầu Thiên Chúa quyền phép vô cùng cũng không thể cho ta điều gì hơn nữa, dầu Thiên Chúa khôn ngoan vô cùng cũng không biết cho ta điều gì hơn nữa, và dầu Thiên Chúa giàu có vô cùng cũng không còn có gì cho ta hơn nữa”. - Mọi bí tích khác, mọi việc tông đồ, mọi chức vụ của Giáo Hội đều quy về Thánh Thể. - Thánh Thể là Bí tích cao cả nhất, là trung tâm, dấu chỉ, và là nguồn sự hiệp nhất. Thánh Thể là Bí Tích Đức Tin, như lời công bố của linh mục: “Đây là mầu nhiệm Đức Tin”. Nhưng theo Đức Gioan-Phaolô II, “Hội Thánh đến với Hy tế này không chỉ bằng một sự tưởng nhớ đầy Đức Tin, nhưng bằng một sự gặp gỡ đích thực, bởi vì Hy tế này được tái hiện luôn mãi, được lưu truyền cách bí tích mãi mãi, trong mọi cộng đoàn dâng lễ qua tay linh mục thừa tác” (trong Thông điệp Ecclesia de Eucharistia). 2/ Thánh Lễ : Cao quý, cần thiết và hiệu quả. - Chỉ khi được lên thiên đàng ta mới có thể hiểu được Thánh Lễ Misa lạ lùng thần thánh chừng nào. Vì trong thánh lễ, chính Đức Kitô thay thế chúng ta, mà chu toàn những bổn phận của chúng ta đối với Thiên Chúa. Thánh Anphongsô viết: “Trong thánh lễ, sự tôn vinh của Đức Kitô là sự tôn vinh của Thiên Chúa, nên có được một giá trị vô cùng”. - Chúa Giêsu thiết lập Hy tế Thánh Thể bằng Mình và Máu Ngài, cốt để tiếp tục hy sinh Thập giá cho tới khi Chúa lại đến (x. PV 47). Bởi vậy, Thánh lễ tái diễn cuộc khổ nạn và tử nạn của Chúa, dù chỉ một lễ cũng đủ sức ngăn cản phép công bình của Chúa. - Thánh Têrêxa d’ Avila nói : “Không có lễ Misa, ta sẽ ra sao, mọi sự dưới gầm trời này hẳn sẽ bị tiêu diệt, chỉ có lễ Misa mới ngăn được tay Chúa. Không có lễ Misa, chắc chắn Giáo Hội sẽ không tồn tại và thế giới sẽ bị diệt vong”. - Hiệu quả Thánh lễ phát sinh trong linh hồn những người tham dự thật là kỳ diệu : Thánh lễ đem lại sự sám hối và tha thứ tội lỗi, giảm bớt các hình phạt tạm phải chịu vì tội, làm suy yếu ảnh hưởng của Satan và những kích thích dấy loạn của xác thịt, làm vững chắc mối dây liên kết với Thân Thể Chúa Kitô, gìn giữ chúng ta khỏi nguy hiểm, rút ngắn hình phạt trong Luyện Ngục, ban cho ta cấp bậc vinh quang cao hơn trên Thiên Đàng. 3/ Thánh Lễ hiện tại hóa Hy Tế Thập Giá a. Những điểm giống nhau : - Trên bàn thờ cũng như trên thập giá, chính Chúa Giêsu hiện diện với cả bản tính Thiên Chúa và bản tính nhân loại. - Trên bàn thờ cũng như trên thập giá, chính Chúa Giêsu là một linh mục dâng tiến (nên khi truyền phép, linh mục thừa tác không đọc: “Này là Mình Máu Đức Kitô”, nhưng đọc: “Này là Mình Ta”), vì Chúa Giêsu nói qua môi miệng vị linh mục và chính Ngài dâng hiến, còn vị linh mục chỉ cùng dâng nhờ Ngài, với Ngài và trong Ngài mà thôi. b. Những điểm khác nhau : - Về người dâng : mặc dù là Chúa Giêsu, nhưng trên thập giá chính Chúa Giêsu dâng mình, còn trên bàn thờ, Ngài dùng tay linh mục mà dâng lên Thiên Chúa. - Về của lễ : mặc dù là Chúa Giêsu, nhưng trên thập giá Ngài đã đau khổ, đã đổ máu và đã chết, nhưng trên bàn thờ, Ngài không còn đau khổ, không còn đổ máu và không còn chết nữa, bởi vì Ngài đã sống lại và lên trời vinh hiển. - Về hiệu quả : Hy tế thập giá đã hoàn tất công trình cứu độ, còn thánh lễ thì chỉ áp dụng công trình cứu độ cho mỗi người chúng ta. 4/ Mục đích Thánh Lễ a. Sống lại mầu nhiệm tử nạn và phục sinh của Đức Kitô - Để cuộc thương khó được sống mãi trong tâm khảm của mọi người, ở mọi nơi và trong mọi lúc, Chúa Giêsu đã thiết lập Bí Tích Thánh Thể. Như thế, mỗi khi cử hành Thánh lễ, chúng ta sống lại Hy tế Thập Giá. - Thứ Năm tuần thánh, Chúa đã phán với các môn đệ: “Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Ta”. Nên trong Thánh lễ, chúng ta kính nhớ Đức Kitô chịu đóng đinh và sống lại, như lời chúng ta tuyên xưng: “Lạy Chúa, chúng con loan truyền Chúa chịu chết, và tuyên xưng Chúa sống lại, cho tới khi Chúa đến”. b. Bày tỏ bổn phận của loài người đối với Thiên Chúa. - Thánh lễ là phương thế để chúng ta bày tỏ bốn tâm tình căn bản, cũng là những bổn phận chính yếu đối với Thiên Chúa là: thờ phượng, cảm tạ, đền tội và xin ơn. 5/ Cách tham dự Thánh Lễ - Cách tham dự Thánh lễ đúng đắn nhất, đó là kết hợp với tâm tình và lễ vật của Đức kitô trên bàn thờ. Đồng thời cố gắng rước lễ mỗi khi có thể, nhất là khi tham dự Thánh lễ. - Trong Thánh lễ, mỗi người chúng ta đều nắm giữ một vai trò tích cực cùng với linh mục chủ tế. Bởi đó, chúng ta không tham dự thánh lễ như đi xem kịch, xem phim, nghĩa là hoàn toàn thụ động. Chúng ta không phải là những khán giả, mà là những diễn viên, vì thế phải tham dự một cách ý thức, thành kính và linh động, hay nói đúng hơn, chúng ta cùng dâng thánh lễ. - Phải tham dự Thánh lễ với tất cả lòng trọng kính, trang nghiêm và sốt sắng. Những thái độ bên ngoài (như áo quần chỉnh tề, cúi đầu bái chào nghiêm trang, đứng ngồi ngay ngắn) thường biểu lộ những tâm tình bên trong. - Thánh Maximilien Kolbe khuyên: khi ta đến trước Mình Thánh Chúa, ta đừng bao giờ quên sự hiện diện của Đức Mẹ. Hãy kêu lên Mẹ và kết hiệp với Mẹ, ít nhất, hãy để Danh thánh dịu dàng Mẹ đến trong tâm trí ta. Nhất là trong việc rước lễ, ta hãy xin Mẹ lưu tâm cách dịu dàng sao cho Chúa và ta, là con cái Mẹ, được hiệp nhất mãi mãi. Thánh Hilariô viết: “Niềm vui lớn lao nhất ta có thể đem đến cho Đức Mẹ là mang Chúa Giêsu Thánh Thể trong lòng chúng ta”. 6/ Sống Thánh Lễ - Chúng ta phải sống đạo trong nhà thờ, cũng như phải sống đạo trong đời sống thường ngày giữa những môi trường xã hội. Nói cách mạnh mẽ, cần phải biến đổi cuộc sống của mình thành một thánh lễ nối dài. - Hãy cố gắng chu toàn mọi công việc bổn phận, dù tầm thường nhất, vì lòng mến yêu Chúa. Đồng thời, những hy sinh và cực nhọc, những đau khổ và buồn phiền chúng ta chấp nhận vì lòng yêu mến Chúa, sẽ là những lễ vật nhỏ bé xuất phát từ lòng cuộc đời, để rồi kết hiệp với Hy tế của Đức Kitô mà dâng lên Thiên Chúa mỗi khi chúng ta tham dự Thánh lễ. - Ngoài ra, nhờ việc rước lễ, chúng ta đã được Đức Kitô ngự vào trong tâm hồn, thì giờ đây, giữa lòng cuộc đời, nhờ những hành động bác ái và yêu thương, chúng ta hãy đem Đức Kitô đến cho những người chung quanh. - “Chắc chắn Đức Maria đã hiện diện trong các buổi cử hành Thánh Thể của thế hệ Kitô hữu tiên khởi đang siêng năng tham dự “lễ bẻ bánh” (Cv 2, 42)… Nếu Thánh Thể là một mầu nhiệm đức tin vượt quá sự hiểu biết đến độ chúng ta phải phó thác hoàn toàn vào lời của Thiên Chúa, thì không ai bằng Đức Maria có thể nâng đỡ và hướng dẫn chúng ta đạt được thái độ đó” (Đức Gioan-Phaolô II trong Thông điệp Ecclesia de Eucharistia).
ĐỀ TÀI VII 1/ Dẫn nhập a) Có nhiều phương thế để sống theo gương Chúa. Cụ thể: - Tận hiến : Thế kỷ XVIII (1700) Thánh Grignon de Monfort khởi xướng việc “Tận hiến cho Đức Mẹ để trở nên nô lệ Tình Yêu của Mẹ”. - Thơ ấu thiêng liêng : Cuối thế kỷ XIX (1888) Thánh Têrêxa Hài Đồng đề cao “con đường thơ ấu thiêng liêng”, như một chiếc thang máy để về trời. Kết hợp hai phương thế trên, theo linh đạo của Dòng Đồng Công, là: “Tận hiến để nên con thơ của Cha và Mẹ trên trời”. b) Nhưng vì con người dễ quên, hay thay đổi, yếu đuối, nên ta cần phải có những lời nguyện tắt, những câu than thở thầm lặng, những tác động mến yêu để cụ thể hoá lòng mến, để nhắc lòng ta nhớ đến Chúa, đến Mẹ, như lời than thở : “Giêsu – Maria – Giuse con mến yêu, xin cứu rỗi các linh hồn”. 2/ Phát xuất từ Trái Tim - Một luật sĩ hỏi Chúa về giới răn trọng nhất, Chúa đã trả lời: “Anh phải yêu mến Chúa hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn. Đó là điều răn quan trọng nhất. Còn điều thứ hai, cũng giống điều răn ấy, là : Anh phải yêu người thân cận như chính mình” (Mt 22, 37-39). - Thánh Phaolô: “Dù tôi nói các thứ tiếng, nhân loại và thiên thần… có ơn tiên tri … lòng tin dời núi … đem cả gia tài bố thí… chịu thiêu đốt… mà không có lòng mến thì cũng là hư vô, là vô ích” (1 Cr 13). Vì thế hãy sống cho tình yêu Chúa và làm sáng danh Chúa. - Thánh Têrêxa Hài Đồng hình dung Tình Yêu như “ống kính vạn hoa” : “Bao lâu những việc ta làm, dù nhỏ mọn đến đâu, còn ở trong lò lửa Yêu Mến, là Chúa Ba Ngôi – như 3 tấm kính hội tụ cho chúng ta một ánh phản chiếu, một vẻ đẹp kỳ diệu – thì Chúa Giêsu thấy những tác động của ta bao giờ cũng đẹp đẽ. Nhưng khi không có Tình Yêu thì những điều hoàn thiện nhất cũng không có giá trị. Yêu là con đường tuyệt hảo dẫn đến Thiên Chúa”. - Để cụ thể hoá Tình Yêu siêu nhiên này, hãy than thở: “Giêsu Maria Giuse con mến yêu, xin cứu rỗi các linh hồn”. Trong lời tác động này, chúng ta tuyên xưng Danh Thánh của Ba Đấng và tình yêu đối với các linh hồn. Các linh hồn đây, là những người còn sống cũng như đã qua đời, người thánh thiện cũng như kẻ tội lỗi, người sốt sắng cũng như kẻ khô khan. Điều quan trọng là phải phát xuất từ Trái Tim yêu mến cầu nguyện, chứ không theo thói quen như một cái máy… - Lời kinh Lạy Cha mà Chúa Giêsu dạy: “Chúng con nguyện danh Cha cả sáng, nước Cha trị đến…” là lời cầu nguyện phát xuất từ trái tim và thực thi trong đời sống. 3/ Giá trị của lòng mến a. Lòng mến thánh hoá mọi việc, làm cho mọi việc có giá trị lớn lao. Ngay từ sáng sớm, khi mới thức dậy, hãy dâng ngày sống mới cho Chúa và Đức Mẹ; dâng mọi tư tưởng, lời nói, việc làm… với ước nguyện thực hiện tất cả vì lòng yêu mến Chúa. Làm được điều này – ít nhất là với lòng ước muốn chân thành mãnh liệt – sẽ làm cho cuộc sống ta có giá trị vô song. b. Lòng mến có giá trị thanh tẩy. Trong Phúc Âm có kể một phụ nữ tội lỗi đã khóc lóc, lấy nước mắt mà tưới chân Chúa… và Chúa đã tha hết tội chị, vì chị có lòng mến lớn lao: “Chị này đã phạm nhiều tội, nhưng chị đã được tha hết vì Chị đã yêu mến nhiều” (Lc 7, 47). c. Lòng mến đem lại sự bình an tâm hồn. Biết bao lần vì yếu đuối, ta dễ chiều theo đam mê hoặc tính nóng giận mà xử đối cộc cằn, bất nhã với người khác, khiến tâm hồn ta bất an, bối rối. Ta hãy vì yêu mến chúa mà thực thi những lời Chúa dạy, vì “Ai yêu mến Ta thì vâng giữ lời Ta”. Vâng giữ lời Chúa mà nhịn nhục, tha thứ, đoán ý lành, làm ơn cho người khó nết… Chẳng hạn như khi có người làm ta nóng giận hãy thầm nguyện: “Giêsu Maria Giuse con mến yêu, xin giúp con biết nhẫn nhục”… Chắc chắn Chúa sẽ ban ơn giúp ta. d. Lòng mến ban sức mạnh phi thường : Xem gương các Thánh: Phêrô, Augustinô, Đaminh, Têrêxa Hài Đồng, các Thánh Tử Đạo ….. 4/ Thực hành Tác Động Mến Yêu. Chúng ta có thể thực hiện : - Những lời cầu nguyện vắn tắt như : “Lạy Chúa, con yêu mến Chúa”… - Những câu than thở : “Giêsu Maria Giuse con mến yêu, xin cứu rỗi các linh hồn”. - Những việc làm vì lòng mến Chúa như lời Thánh Phaolô nói : “Dù anh em ăn, dù anh em uống hay làm bất cứ việc gì, anh em hãy làm vì danh Chúa” ( 1 Cr 10, 31).
ĐỀ TÀI VIII
Chuỗi Mân Côi hay còn gọi là chuỗi Văn Côi, Môi Khôi, dịch từ tiếng La tinh: Rosarium, nghĩa là Vườn Hồng. Những kinh Mân Côi liên tiếp dâng lên Mẹ như những bông hoa hồng đẹp tươi thơm ngát được tiến dâng. 1/ Kinh Mân Côi trong lịch sử Giáo Hội Vào các thế kỷ đầu của Giáo Hội, các vị ẩn sĩ miền hạ Ai Cập dùng hạt trái cây hoặc sỏi nhỏ để đếm kinh “Lạy Cha”. Sau mỗi kinh Lạy Cha đọc xong thì lấy một hạt bỏ đi. Đó là lối lần hạt cổ xưa nhất. - Thời trung cổ, các tu sĩ quen đọc 150 Thánh Vịnh trong một ngày bằng tiếng La tinh. Nhưng ai không biết tiếng Latinh thì được các bề trên cho đọc 150 kinh Lạy Cha thay thế. Để đếm số kinh Lạy Cha, các thầy dùng dây xâu hạt trái cây gọi là “Tràng Hạt Kinh Lạy Cha”. - Sang thế kỷ XII, giáo dân bắt chước các thầy dòng, đọc 150 kinh Kính Mừng thay vì đọc 150 Kinh Lạy Cha, và gọi lối đọc kinh này là “Sách Thánh Vịnh Đức Mẹ”. - Đến thế kỷ XIII (năm 1213) Đức Mẹ hiện ra với thánh Đaminh dạy Ngài rao truyền kinh Mân Côi. - Kinh Mân Côi lúc đầu gồm Năm Sự Vui, Năm Sự Thương và Năm Sự Mừng. Năm 2002, trong Tông thư Rosarium Virginis Mariae (Kinh Mân Côi Đức Trinh Nữ Maria), Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II thêm vào Năm Sự Sáng. 2/ Giá trị của Kinh Mân Côi a. Kinh Mân Côi là kinh của Phúc Âm - Đức Phaolô VI nói : “Kinh Mân Côi là bản tóm lược Phúc Âm, là lời kinh hướng về mầu nhiệm Nhập Thể, là lời kinh chiêm niệm cuộc đời Chúa Cứu Thế”. - Khởi đầu của Kinh Mân Côi là kinh Lạy Cha. Đây là lời kinh giá trị và ý nghĩa nhất, vì do chính Chúa Giêsu dạy chúng ta. Khởi đầu Kinh Mân Côi bằng kinh Lạy Cha để hướng lòng chúng ta tôn thờ Chúa Cha, yêu mến, ca tụng và xin ơn… - Phần đầu của Kinh Kính Mừng là lời Sứ Thần chào kính Đức Mẹ, và lời bà Isave – dưới ơn soi sáng của Chúa Thánh Thần – kính chào Đức Mẹ, được ghi lại trong Phúc Âm. Riêng phần sau của Kinh Kính Mừng, Giáo Hội mời gọi chúng ta tuyên xưng Mẹ là Mẹ Thiên Chúa, xin Mẹ cầu cho chúng ta khi sống và nhất là trong giờ lâm tử. - Kết thúc là Kinh Sáng Danh, để ngợi khen và ca tụng Ba Ngôi Thiên Chúa, mầu nhiệm cao cả nhất trong đạo Công Giáo. - Lời nguyện “Lạy Chúa Giêsu, xin tha tội lỗi chúng con…” là Lời nguyện do chính Đức Mẹ thêm vào, khi dạy ba trẻ tại Fatima. b. Kinh Mân Côi là nguồn mạch dồi dào ân sủng : Thánh Bonaventura : “Nếu ta chào Mẹ bằng Kinh Kính Mừng thì Mẹ Maria sẽ chào lại ta bằng ân sủng”. Thánh Giáo Hoàng Piô X : “Nếu các con muốn gia đình các con được yên lành hạnh phúc, các con hãy lần hạt Mân Côi mỗi tối trong gia đình”. c. Kinh Mân Côi nằm trong sứ điệp Fatima. Khi Đức Mẹ hiện ra với ba trẻ ở Fatima, thì Đức Mẹ nhắc đi nhắc lại trong 6 lần hiện ra là : “Hãy lần hạt mỗi ngày”. Ngày 13-10-1917, Đức Mẹ xưng danh: “Ta là Nữ Vương Mân Côi … Hãy tiếp tục lần hạt mỗi ngày”. (Sứ điệp Fatima là : Ăn năn cải thiện đời sống – Siêng năng lần hạt – Tôn sùng Trái Tim Mẹ). 3/ Sống Kinh Mân Côi trong đời Tận hiến Một vài cách gợi ý thực hành Kinh Mân Côi : - Mỗi sáng khi thức dậy và mỗi tối trước khi ngủ, hãy dâng mình cho Đức Mẹ, và đọc sốt sắng ít là ba kinh Kính Mừng với lời than thở: “Lạy Mẹ Maria, vì ơn Vô Nhiễm Nguyên Tội, xin Mẹ giữ gìn hồn xác con trong sạch và nên lành thánh trót đời”. - Mỗi khi gặp thử thách hoặc cám dỗ cho mình hay thân nhân, hãy kêu cầu Mẹ qua kinh Mân Côi. - Khi ra khỏi nhà, nhất là khi đi xa, có thể đọc kinh Mân Côi (trên xe đò, tàu hỏa…) để xin Đức Mẹ gìn giữ ta bình an hồn xác. - Đọc kinh chung trong gia đình. Đức Phaolô VI nói: “Gia đình nào muốn sống trọn vẹn ơn gọi của gia đình Kitô giáo, thì hãy dẹp bỏ trở ngại (video, truyền hình, những lục đục, bất hoà…) để đọc kinh chung trong gia đình. Trong đó chuỗi kinh Mân Côi là kinh gia đình tốt nhất và hữu hiệu nhất”. - Trong giờ nguy tử, hãy tha thiết kêu cầu Mẹ qua kinh Mân Côi. Vì Thánh Bênađô nói: “Kinh Mân Côi có sức xua đuổi ma quỷ, làm hoả ngục run sợ”. Kinh Mân Côi là lời kinh dành cho tất cả mọi người, mọi lứa tuổi, mọi thành phần trong Giáo Hội. Chân phước Giáo Hoàng Gioan XIII nói: “Chớ gì kinh Mân Côi gia đình là một hương thơm sự an bình cho gia đình các con. Ước chi con cái của các con chạy đến với Mẹ Maria để gìn giữ sự trong trắng thơ ngây. Ước chi các bạn thanh thiếu niên học được nơi Đức Mẹ sự hăng say làm việc lành và bảo đảm sự thanh khiết của họ. Ước chi người đau khổ hy vọng được niềm an ủi nơi Đức Nữ Trinh”. |