|
ĐỌC LỜI CHÚA
* Cv 12,1-11: (11) Lúc ấy ông Phê-rô mới hoàn hồn và nói : «Bây
giờ tôi biết thực sự là Chúa đã sai thiên sứ của Người đến, và Người đã
cứu tôi thoát khỏi tay vua Hêrôđê, và khỏi mọi điều dân Do-thái mong
muốn tôi phải chịu».
* 2Tm 4,6-8.17-18: (17) Có Chúa đứng bên cạnh tôi, Người đã ban
sức mạnh cho tôi, để nhờ tôi mà việc rao giảng được hoàn thành, và tất
cả các dân ngoại được nghe biết Tin Mừng.
* TIN MỪNG: Mt 16,13-19
Ông Phêrô tuyên xưng Đức Giêsu là Con Thiên Chúa
(// Mc 8,27-30; Lc 9,18-21)
(13) Khi Đức Giêsu đến vùng kế cận thành Xêdarê Philípphê, Người hỏi các
môn đệ rằng: «Người ta nói Con Người là ai?» (14) Các ông thưa: «Kẻ thì
nói là ông Gioan Tẩy Giả, kẻ thì bảo là ông Êlia, có người lại cho là
ông Giêrêmia hay một trong các vị ngôn sứ». (15) Đức Giêsu lại hỏi: «Còn
anh em, anh em bảo Thầy là ai?» (16) Ông Simôn Phêrô thưa: «Thầy là Đấng
Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống». (17) Đức Giêsu nói với ông: «Này anh
Simôn con ông Giôna, anh thật là người có phúc, vì không phải phàm nhân
mặc khải cho anh điều ấy, nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời.
(18) Còn Thầy, Thầy bảo cho anh biết: anh là Phêrô, nghĩa là Tảng Đá,
trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần
sẽ không thắng nổi. (19) Thầy sẽ trao cho anh chìa khoá Nước Trời: dưới
đất, anh cầm buộc điều gì, trên trời cũng sẽ cầm buộc như vậy; dưới đất,
anh tháo cởi điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy».
CHIA SẺ
Câu hỏi gợi ý:
1. Nếu Đức Giêsu hỏi bạn: «Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?»,
thì bạn trả lời theo những gì bạn chứng nghiệm về Ngài, hay theo sự hiểu
biết học được từ người khác?
2. Là Kitô hữu, bạn đã có những cảm nghiệm thực tế và cụ thể về Đức
Giêsu chưa, hay chỉ có một mớ những hiểu biết lý thuyết về Ngài, dù rất
uyên bác sâu rộng?
3. Bạn có muốn thật sự cảm nghiệm về Ngài không? Bạn đã từng nỗ lực làm
điều này chưa? Theo bạn, phải làm sao để cảm nghiệm được Ngài?
Suy tư gợi ý:
1. «Người ta nói…», nhưng «còn anh em…» thì sao?
Khi trình bày về Thiên Chúa, về Đức Giêsu, chúng ta thường trình bày một
cách lý thuyết, dựa trên những bài bản có sẵn, do người khác soạn sẵn,
suy nghĩ sẵn, chúng ta chỉ việc nói theo đó. Điều đó cũng phần nào hợp
lý, vì có dựa trên những bài bản có sẵn đó, thì những người nói về Thiên
Chúa hay Đức Giêsu mới có sự đồng nhất với nhau. Nếu mỗi người đều nói
theo quan niệm hay suy tư riêng của mình, thì sẽ thành ra mỗi người nói
một kiểu, người nghe biết tin theo ai. Nhưng lý thuyết vẫn luôn luôn là
lý thuyết, là cái gì ở ngoài mình, và được áp đặt xuống cho mình. Xét
cho cùng đó chỉ là cái «người ta nói», còn ta chỉ là người nói
theo thôi. Trong bài Tin Mừng hôm nay, ta thấy Đức Giêsu hỏi các môn đệ
hai câu khác hẳn nhau: «Người ta nói Con Người là ai?» và «còn
anh em, anh em bảo Thầy là ai?» Rõ ràng trong hai câu hỏi, Đức Giêsu
coi câu sau quan trọng hơn câu trước rất nhiều. Ngài chỉ dựa vào câu trả
lời cho câu hỏi sau để xem ai là người đáng Ngài tin cậy nhất.
2. Điều quan trọng là cảm nghiệm thực tế về Đức Giêsu
Điều quan trọng không phải là những điều chúng ta nghe biết về Thiên
Chúa hay Đức Giêsu. Đó là những điều chúng ta học được trong sách giáo
lý, hay đọc được từ những tác phẩm thần học… Đó toàn là những điều «người
ta nói» về Ngài, chứ không phải là những điều chính bản thân ta cảm
nghiệm được về Ngài. Chính những cảm nghiệm đích thực về Ngài mới có khả
năng làm ta yêu mến Ngài và dám dấn thân sống chết cho Ngài. Thật vậy,
làm sao có thể yêu mến và dấn thân cho một người mà mình chỉ biết trên
lý thuyết, chứ chưa từng gặp mặt, chưa từng có một quan hệ ngoại giao
hay tình cảm nào? Nhưng làm sao có được những cảm nghiệm về Thiên Chúa
hay Đức Giêsu? làm sao có được quan hệ tình cảm riêng tư với Ngài, khi
mà Ngài vô hình, ta chẳng hề thấy hay gặp bao giờ?
3. Làm sao cảm nghiệm được Ngài?
Vấn đề rất quan trọng trong đời sống Kitô hữu đích thực là phải cảm
nghiệm được sự hiện diện và hoạt động của Ngài trong đời sống của ta, và
có được một quan hệ riêng tư và tình cảm với Ngài. Nếu không có được cảm
nghiệm và quan hệ này, Thiên Chúa hay Đức Giêsu vẫn chỉ là một ý niệm
trong đầu óc ta không hơn không kém. Ý niệm ấy chẳng khác gì ý niệm về
ánh sáng hay mầu sắc của một người mù bẩm sinh, sở dĩ có được là do nghe
người khác nói.
a) Cần thường xuyên ý thức Ngài hiện diện trong bản thân ta
Cảm nghiệm về Thiên Chúa hay Đức Giêsu phải khởi đi từ niềm tin này, là
tin Ngài thật sự hiện diện trong tâm hồn ta. Đây là sự thật làm nền tảng
cho đời sống tâm linh của ta, và là một tiêu chuẩn để biết mình có đức
tin Kitô hữu hay không. Thật vậy, thánh Phaolô nói: «Anh em hãy tự
xét xem mình có còn sống trong đức tin hay không. Hãy tự kiểm điểm xem:
anh em chẳng nhận thấy có Đức Giêsu Kitô ở trong anh em sao?» (2Cr
13,5). Chúng ta không có may mắn gặp hay cảm nghiệm được Ngài bằng xương
bằng thịt cách hữu hình như các tông đồ xưa. Tuy nhiên, dẫu có may mắn
đó, chưa chắc ta đã «gặp» được Ngài thật sự. Biết bao người sống
vào thời Đức Giêsu - chẳng hạn những người Pharisiêu hay các kinh sư
Do-thái - đã từng thấy Ngài, nói chuyện với Ngài, nhưng đâu có «gặp»
được Ngài, đâu có quan hệ riêng tư và tình cảm với Ngài! Vì sao? Vì «hữu
duyên thiên lý năng tương ngộ, vô duyên đối diện bất tương phùng»
(có duyên với nhau thì dù xa cách ngàn dặm cũng vẫn có thể gặp nhau, còn
không có duyên với nhau thì có mặt chạm mặt cũng không thể gặp nhau). Hễ
có duyên với Ngài thì sẽ khao khát muốn gặp Ngài và sẽ đi tìm Ngài. Mà
hễ đã thật sự đi tìm thì ắt nhiên sẽ gặp, vì «ai tìm sẽ thấy» (Mt
7,8).
Sự hiện diện của Ngài trong bản thân ta đã được chính Ngài xác nhận:
«Thầy sẽ ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế» (Mt 28,20). Thánh
Phaolô cũng nói: «Chỉ có Đức Kitô là tất cả và ở trong mọi người»
(Cl 3,11); «Thiên Chúa đã sai Thần Khí của Con mình đến ngự trong
lòng anh em» (Gl 4,6).
Vấn đề hết sức quan trọng là ta phải thường xuyên ý thức sự hiện diện
ấy, đồng thời tin tưởng rằng Ngài là nguồn sức mạnh, nguồn yêu thương;
và với Ngài, ta có thể làm được tất cả mọi sự (x. Pl 4,13).
b) Cần tạo điều kiện để Ngài tự do hoạt động trong ta
Điều quan trọng thứ hai để Ngài có thể hoạt động hữu hiệu trong ta là
phải để cho Ngài được tự do hoạt động. Điều làm cho Ngài không thể tự do
hoạt động trong ta chính là ý riêng của ta và sự thiếu cộng tác của ta.
Nếu ta coi nhẹ ý riêng mình để lúc nào cũng sẵn sàng cộng tác với Ngài
thực hiện những gì Ngài muốn làm trong ta, thì ta sẽ thấy Ngài dần dần
thực hiện được trong ta những thay đổi lớn lao. Chính Đức Giêsu cũng coi
nhẹ ý riêng của Ngài, và luôn cộng tác với thánh ý Chúa Cha: «Tôi tự
trời mà xuống, không phải để làm theo ý tôi, nhưng để làm theo ý Đấng đã
sai tôi» (Ga 6,38); «Tôi không tìm cách làm theo ý riêng tôi,
nhưng theo ý Đấng đã sai tôi» (Ga 5,30); «Lương thực của Thầy là
thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy» (Ga 4,34). - Nhưng làm sao
biết được ý của Ngài thế nào?
Ý của Ngài được biểu lộ:
(1) trước hết và đặc biệt trong lời của Ngài, được ghi chép trong Kinh
Thánh,
(2) trong luật của Ngài (được tóm lại trong hai chữ yêu thương),
(3) trong tiếng lương tâm của ta,
(4) trong các bổn phận và trách nhiệm của ta đối với Thiên Chúa, bản
thân, tha nhân, gia đình, xã hội và Giáo Hội,
(5) trong các biến cố khách quan - tức xảy ra độc lập với ý muốn của ta
- trong đời sống. Ngài dùng những biến cố này để thánh hóa ta.
Chỉ cần thực hiện được hai điều quan trọng trên thì tự nhiên giữa ta với
Đức Giêsu càng ngày càng có một quan hệ mật thiết hơn. Dần dần, ta nhận
ra Ngài đúng là một nhân vật, tuy vô hình nhưng rất «cụ thể», có thể cảm
nghiệm được cách sống động và rõ rệt. Ngài đóng một vai trò quan trọng
trong đời sống ta, ảnh hưởng và biến đổi đời sống ta một cách mạnh mẽ,
hữu hiệu.
4. Người có đức tin sống động là nền tảng của Giáo Hội
Có cảm nghiệm được Ngài, ta mới có thể trả lời đúng ý Ngài câu hỏi:
«Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?» Ngài muốn ta trả lời dựa trên
chính kinh nghiệm của ta chứ không phải dựa trên những bài bản, trên
những gì ta chỉ được nghe và ép lòng mình phải tin. Chỉ lúc đó, đức tin
của ta mới trở thành đức tin đích thực, đến từ cảm nghiệm thực tế, chứ
không chỉ đến từ một chấp nhận xuông của lý trí với tác động của ý chí.
Chỉ đức tin ấy mới đủ sức mạnh để thúc đẩy ta thật sự dấn thân cho Thiên
Chúa và tha nhân. Ta phải làm sao nói được như những người Samari xưa:
«Không phải vì lời chị kể mà chúng tôi tin, mà vì chính chúng tôi đã
đích thân nghe Người nói và nhận ra rằng Người thật là Đấng cứu độ trần
gian» (Ga 4,41).
Chỉ lúc đó, Đức Giêsu mới có thể nói với ta như đã nói với Phêrô:
«Anh là Phêrô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh
của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi». Theo ngữ cảnh
của bài Tin Mừng này, Đức Giêsu nói với Phêrô câu ấy vì ông là người có
đức tin mạnh mẽ, chứ không phải vì ông là trưởng nhóm các tông đồ. Thật
vậy, trong thực tế từ xưa đến nay, Giáo Hội được xây dựng và tồn tại
trên những đá tảng vững chắc là những người có đức tin sống động, dù họ
là giáo dân, tu sĩ hay giáo sĩ. Chứ Giáo Hội không được xây trên những
người đạt được những quyền cao chức trọng trong Giáo Hội nhưng lại không
có đủ đức tin và tình yêu, không có một tương quan thật sự với Đức
Giêsu. Lịch sử Giáo Hội đã chứng tỏ những người này chẳng những không
làm vững chắc mà còn làm lung lay tòa nhà Giáo Hội nữa.
Ước gì mỗi người chúng ta có thể nói tương tự như Phêrô, nghĩa là nói
bằng chính cảm nghiệm của mình, chứ không phải lập lại một cách máy móc
lời của một người khác: «Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống».
Đức Giêsu mong muốn chúng ta nói được như thế!
Cầu nguyện
Lạy Cha, đức tin và tình yêu đích thực không hề đến từ những hiểu biết
có tính lý thuyết, mà đến từ khát vọng muốn cảm nghiệm được Cha và lòng
quyết tâm đi tìm cảm nghiệm ấy. Xin đừng để con thỏa mãn và dừng lại nơi
những hiểu biết về Cha, mà quyết tâm tìm cách cảm nghiệm Cha. Đừng để
con giống như kẻ «ăn bã mía», thấy người ta ăn mía khen ngọt,
mình cũng nhai lại những bã ấy và bắt chước họ khen ngọt. Xin cho con
cảm nếm được Cha, thưởng thức được sự ngọt ngào của tình yêu Cha dành
cho con. |