Hạnh Các Thánh


Ngày 28 tháng 9

THÁNH VENCESLA TỬ ĐẠO

THÁNH LÔRENSÔ RUY VÀ CÁC BẠN TỬ ĐẠO

THÁNH VENCESLA TỬ ĐẠO

(+ 929)

Nếu trên dòng lịch sử xứ Bohemia luôn hãnh diện là trung tâm văn hóa kỳ cựu của lục địa Âu châu, thì cũng tại đây, lòng người dân vẫn dâng lên một niềm hân hoan ngưỡng mộ gương mẫu vị thánh anh hùng Vencesla. Tên thánh nhân đương nhiên thành lời nguyện tắt sốt sắng thốt ra từ miệng mọi người trong mọi trường hợp.

Thánh nhân chào đời năm 907, thân sinh ngài là lãnh chúa Vrastislas, bấy giờ cai trị một phần Bohemia dưới quyền của người anh ruột là tiểu vương Spitignier. Giữ chức chẳng được bao lâu thân phụ Vencesla ngã bệnh và từ trần năm 920. Và ngài phải sống với bà nội là thánh nữ Ludmira. Chính bà đã hun đúc cho Vencesla những đức tính của một vị lãnh chúa lương thiện và mở đạo. Ngoài những buổi cắp sách đến trường, Vencesla còn học riêng La văn với một linh mục ẩn danh, cũng là cha linh hướng của thánh nữ Ludmira. Nhờ sự săn sóc chu đáo của gia đình, Vencesla chóng nổi tiếng là một trang thanh niên văn võ kiêm toàn.

Nhưng đau đớn thay, đang lúc say mê với sự nghiệp tương lai, người thanh niên số một của xứ Bohemia kia ngoài số phận mồ côi cha, còn phải chịu một cảnh thương tâm và tàn nhẫn: Bà thân mẫu tên là Drahomira đã phản đức tin đi theo bè rối. Hơn thế, chính bà, vì nghe quân thù của Giáo hội xúi xiểm, đã đang tâm giết mẹ chồng là thánh nữ Ludmira. Ai có thể tả được nỗi khổ tâm của Vencesla lúc này! Dầu vậy, người ta vẫn thấy vị lãnh chúa trẻ tuổi xứ Bohemia hăng hái, tin tưởng sống theo đức tin. Ngài chỉ muốn một mình Thiên Chúa là chứng nhân độc nhất của tâm hồn. Phản bội đức tin rồi, bà Drahomira còn chưa lấy thế làm thoả mãn. Vịn lý do chính trị phải biệt lập với tôn giáo, bà đã vận động với các lãnh chúa khác bắt Vencesla sống xa các nhà cầm quyền công giáo.

Vì thế, các linh mục chỉ có thể đến gặp thánh nhân lén lút vào ban đêm. Vencesla phải sống những ngày cô độc về tinh thần. Nhưng ơn Chúa vẫn đủ cho người công chính giầu thiện chí. Năm 915, trong một buổi đại hội đủ mặt các lãnh chúa có chân trong bè rối, thánh Vencesla đã mạnh bạo lên tiếng đòi quyền tự do tín ngưỡng. Ngài nói: “Tôi xin hỏi các ông, tại sao các ông cấm đoán tôi học hỏi luật thánh và vâng giữ các giới răn Chúa Kitô truyền dạy? Có phải vì các ông ghét bỏ Thiên Chúa, nên các ông có quyền cấm người khác mến yêu Người không? Riêng cá nhân tôi, tôi không thể liên kết với các ông, không bao giờ tôi chấp nhận những ý kiến càn dỡ của các ông, mà chỉ ước ao phụng sự Thiên Chúa với tất cả tấm lòng yêu mến của tôi”.

Ngoài ra, Vencesla cũng tuyên bố bất hợp tác với bà mẹ xấu nết cho tới khi nào bà hối cải trở về với đức tin công giáo. Thánh nhân còn tổ chức lễ quốc táng cho bà nội một cách trọng thể tại Bragne. Sau hết, ngài hội các linh mục lại, xin các ngài bình tĩnh trước thời cuộc và hăng hái bảo vệ cánh đồng Phúc âm khỏi sự tàn phá của bè rối.

Đức tin anh dũng của lãnh chúa Vencesla còn biểu lộ rõ rệt trong đời sống khổ hạnh. Suốt mùa chay, ngài đi chân không, chỉ ăn bánh khô với nước lã và mặc áo nhặm có gai nhọn. Người ta nói thời khóa biểu của ngài chỉ gồm có làm việc và cầu nguyện. Ngài dự lễ và rước Mình Thánh Chúa mỗi ngày để có thể sống đời sống của một “con chiên giữa đàn sói rừng là lãnh chúa khác”.

Càng nhiệm nhặt với bản thân, thánh Vencesla càng quảng đại với tha nhân, ngài chỉ biết lấy tình cha nhân hiền để đối xử với con dân, lấy lòng từ tốn và đức nhẫn nại cảm hóa họ và đưa họ về với đức tin. Ngài cương trực với những con người bất chính, nhưng thành tâm thương giúp lớp người đau yếu và nghèo đói. Vì thế, hình ảnh ngài còn sống mãi trong tâm trí và ký ức của dân miền Bohemia. Họ cầm mình sao được mỗi khi thấy vị lãnh chúa ăn mặc đơn sơ, tận tụy trao của bố thí cho từng người nghèo túng... Trong khi những lãnh chúa kia tung tiền ra để xây cất những hí trường và rạp hát để lôi dân chúng đến dịp tội nhiều hơn là mua vui, thì thánh Vencesla lại dành dụm từng đồng dựng lên cho Thiên Chúa nhiều thánh đường nguy nga làm nơi rung cảm cho những con tim cùng rung theo một nhịp điệu “Tin Yêu” như ngài.

Tuy nhiên, không phải chỉ mải mê đến những việc đạo đức mà ngài lãng quên nhiệm vụ của một lãnh chúa là trị quốc an dân, lo cho dân giàu nước mạnh. Trái lại, thánh Vencesla hằng lưu tâm cách riêng đến việc hùng hậu hóa dân tộc. Với những đoàn quân binh tinh nhuệ anh dũng. Từ nhỏ, ngài vẫn tỏ ra là một người có tài binh đao, nên mỗi khi có quốc biến, chính ngài thân chinh điều khiển quân lực. Cho đến ngày nay, người dân xưa Bohemia còn chuyền miệng nhau câu truyện lý thú sau đây, chứng tỏ lòng bác ái và đời sống thánh thiện của vị lãnh chúa: Trong một trận kịch chiến, người ta thấy trên trán thánh nhân nổi lên một thánh giá, rồi như bị quật ngã bởi sức siêu nhiên, võ quan chỉ huy đoàn quân đối phương quẳng gươm đến phủ phục dưới chân thánh nhân xin hàng vô điều kiện. Với lòng độ lượng, khoan dung bác ái, lãnh chúa Vencesla cúi xuống nâng vị võ quan dậy rước về hoàng cung, và sau đấy trả lại tự do cho ông. Một mặt ngài cương quyết bảo vệ đất nước với bất cứ giá nào, nhưng mặt khác ngài lại khôn ngoan dè dặt tránh cho dân những cuộc đổ máu. Vì thế năm 929, khi quân Đức kéo đến xâm lăng lãnh thổ, biết thế yếu không chống nổi, ngài đã ôn hòa nhượng bộ và xin triều cống hằng năm.

Nhưng thói thường “Đức khôn ngoan của người công chính” khác nào cái gai nhọn chọc vào mắt những kẻ bất lương khiến họ bực tức căm thù. Câu truyện sau đây chứng tỏ điều đó. Quận công Boleslas, em họ của lãnh chúa Vencesla, nổi tiếng háo danh, đã phát khùng vì cách xử ôn hòa của thánh nhân. Ông ghép cho ngài tội phản quốc, và nhất định tìm cách sát hại. Vậy nhân ngày lễ kính hai thánh tử đạo Côximô và Đamianô, lãnh chúa được mời tới dự tiệc trà tại tư dinh quận công Boleslas. Bắt đầu tiệc, Vencesla nâng chén chúc mừng quận công và khách dự tiệc: “Nhân danh Tổng lãnh Thiên Thần Micae, xin Người đổ tràn tâm hồn chúng ta sự bình an và hoan hỷ muôn đời”. Tất cả khách dự tiệc đều hân hoan thưa “Amen”, trừ một mình quận công Boleslas. Ông cho đó là phạm thượng. Hôm sau, khi lãnh chúa Vencesla vào nhà thờ cầu nguyện thì thấy quận công Boleslas đã cầm gươm chờ sẵn trước cửa.

Với lòng ngay thật, lãnh chúa chúc mừng: “Chớ gì Chúa Kitô cho ngài được dự yến tiệc vĩnh cửu của Người”. Boleslas nóng mặt trả lời: “Hôm qua tôi đã hết sức tiếp đãi ngài và bây giờ tôi đến để xin sự sống của ngài”. Nói rồi ông tuốt gươm toan chém đầu lãnh chúa Vencesla. Nhưng lãnh chúa đã nhanh tay đỡ lấy gươm và từ tốn hỏi: “Ô! Sao? Em mưu toan làm điều ác ư?”. Không trả lời, Boleslas đưa gươm chém lãnh chúa rồi tẩu thoát! Sau nửa giờ ngã qụy trên vũng máu, thánh Vencesla đã tắt thở êm ái. Hôm ấy là ngày 28 tháng 9 năm 929.

Cái chết anh hùng của lãnh chúa Vencesla làm náo động cả xứ Bohemia. Càng bất mãn vì hành động mù quáng của quận công Boleslas, người ta càng ca ngợi lòng trung trực của thánh Vencesla. Chính Thiên Chúa cũng làm nhiều phép lạ để tán thưởng lòng trong sạch của thánh nhân. Ngay khi vừa mới tắt thở, xác thánh nhân đã chiếu ra nhiều ánh quang mang hương thơm đến cho mọi người. Trong số những người đến viếng có hơn mười người bệnh được chữa khỏi nhờ công nghiệp thánh Vencesla. Xác thánh nhân được mai táng rất trọng thể tại nhà thờ hai thánh Côximô và Đamianô ngày 4.3.932, sau lại được cải về nhà nguyện thánh Guy.

Dân chúng rất mến tiếc ngài và đã coi ngài như một vị tử đạo. Nhiều văn sĩ đã viết những bài ca tụng đời sống thánh thiện, tài cai trị, yêu nước và chí anh hùng của ngài. Thế nên thánh nhân nghiễm nhiên được suy tôn là vị thánh anh hùng của dân tộc. Nhiều nhà thờ được dựng lên dâng kính thánh nhân. Cũng từ đó, triều thiên các vua xứ Bohemia được gọi bằng một tên riêng là: “Triều thiên thánh lãnh chúa Vencesla”.

Dựa vào những phép lạ Chúa đã làm và lòng sùng kính của giáo dân với lãnh chúa Vencesla, năm 976, Giáo hội đã chính thức phong ngài lên bậc hiển thánh và định lễ vào ngày 28 tháng 9 hằng năm.

Trong ngày đó, giáo dân xứ Bohemia cùng dâng lên một lời ca sáng tác từ thế kỷ XIII: “Lạy thánh Vencesla, vị lãnh chúa anh minh xứ Bohemia, xin cầu cho chúng con trước toà Chúa, xin cầu cho chúng con. Người là vị thừa kế đất Bohemia, xin hãy nhớ tới dòng dõi người và đừng để chúng con và con cái chúng con phải lầm than tiêu diệt! Xin cầu cho chúng con. Lạy thánh Vencesla, chúng con xin người hô vực chúng con khi nghèo khổ, yên ủi chúng con khi sầu muộn và hộ vực chúng con khi bị gian nan cực khốn! Xin cầu cho chúng con. Nước trời là lâu đài tuyệt mỹ, chớ gì chúng con cũng được lên hưởng với Người trong nơi vĩnh cửu chan hòa ánh sáng của Chúa Thánh Linh. Xin cầu cho chúng con. Amen”.

 

* THÁNH LÔRENSÔ RUY

THÁNH ĐAMINH IBANHÊ ÊQUIXIA

THÁNH GIACÔBÊ KIUXÊI TÔMÔNAGA VÀ CÁC BẠN TỬ ĐẠO

Đoàn tử đạo 16 vị này thuộc các năm 1633, 1634, 1637; tất cả đều đã góp phần vào việc xây dựng Hội thánh ở Nagasaki, với đủ thứ tác vụ có hoặc không có chức thánh, lại cũng đã chịu chết ở đây rất dữ tợn, bị kẹp cổ trên cây giá hay bị chôn sống, xác bị thiêu đốt, hài cốt liệng tứ tung...

Các vị tử đạo này gồm chín người Nhật, bốn người Tây Ban Nha, trong số này có cha Đaminh Ibanhê Êquixia, người được phúc tử đạo đầu tiên (14.8.1633), một người Pháp và một người Ý. Sau hết là Lôrensô Ruy quê tại Manila, một giáo dân có gia đình, vị tử đạo tiên khởi của Hội thánh Philippin (29.9.1637). Mười ba vị thuộc gia đình Đaminh, ba vị khác có liên hệ với Dòng.

Đức Gioan Phaolô II đã long trọng suy tôn các ngài lên bậc hiển thánh ngày 18.10.1987.

 

* Trích thư thánh Đaminh Ibanhê Êquixia, linh mục tử đạo gửi từ Nhật bản về cho cụ thân sinh ngày 18.10.1630.

“Tháng 5 vừa qua, người ta đã bắt được một trợ sĩ dòng Phanxicô. Như vậy tới nay, năm tu sĩ đã bị bắt cùng với đông đảo dân chúng, tất cả chừng 400 người đã được phúc tử đạo. Tháng trước nữa, nhiều người bị thiêu sinh, và chừng 30 người bị xẻ thân mình bằng những thanh nứa.

Những hình khổ người ta dùng để ép buộc bỏ đạo thật dã man: có người bị dội nước sôi lên đầu từ từ, bồi thêm diêm sinh, nhựa thông, dầu, hoặc các chất khác để nạn nhân thêm đau khổ. Có người bị đóng đinh vào thập giá, người khác bị dìm xuống sông nước lạnh cho chết rét, người khác bị chôn đứng nửa người, rồi người ta lấy cưa tre xẻ thân mình, cuộc hành hình kéo dài trong bảy tám ngày. Cho tới nay các tu sĩ chỉ bị thiêu sống: người ta để những đống củi cháy vây quanh làm cho nạn nhân không bị lửa đốt cháy, nhưng chết ngạt từ từ.

Hiện con có nguy cơ rất lớn bị bắt; con linh cảm đây là lá thư cuối cùng đời con. Thưa cha rất yêu mến của con, chúng ta phải sống sao để sẽ được gặp nhau vĩnh viễn trên trời, chẳng còn sợ phải xa cách nhau”.