Hạnh Các Thánh


Ngày 24 tháng 9

THÁNH GIÊRAĐÔ, GIÁM MỤC TỬ ĐẠO

Thánh Giêrađô sinh tại Vênitia vào khoảng năm 970. Từ lúc niên thiếu, Giêrađô đã có lòng đạo hạnh và một tâm hồn đơn sơ thanh sạch đặc biệt hơn mọi trẻ. Khi lên năm tuổi, cậu lại được cha mẹ gửi vào tu viện Biển Đức, để được thụ huấn bên cạnh các tu sĩ. Sẵn thiên tài và trí khôn sáng suốt, Giêrađô học các môn khoa học rất mau lẹ, đồng thời với tâm hồn trong trắng, cậu càng bước tới trên con đường thánh thiện.

Vào thế kỷ XI, phong trào hành hương viếng đất thánh rất náo nhiệt. Từng đoàn giáo dân lũ lượt kéo nhau về đất thánh như nước chảy, nhất là ở Ý và Pháp. Giêrađô cũng xin nhập bọn với một phái đoàn hành hương đi viếng những nơi Chúa Kitô đã trải qua xưa trong cuộc đời trần gian của Người. Trở về mang theo một tâm hồn truyền giáo rất mãnh liệt, nên ngài hằng ước ao được đi rao giảng Phúc âm cho lương dân.

Lúc ấy ở Hungari còn nhiều người chưa được diễm phúc biết đạo Chúa Kitô, họ còn say mê sùng kính ngẫu thần. Được ơn Chúa thúc đẩy, Giêrađô đã lặn lội đến những hang cùng ngõ hẻm, dù có phải nguy hiểm đến tính mạng, để mang tin lành đến cho những người đói khát lời Chúa. Nhưng tiếc thay, chưa gặp hoàn cảnh thuận tiện, ngài không thể thi hành được ý định như lòng mong ước. Ngài bèn tìm bãi sa mạc hoang vu tĩnh mịch để suốt ngày đêm liên lỉ cầu nguyện cho nước Hungari được trở lại. Để lời cầu nguyện được kết quả, ngài kèm theo những việc hy sinh, hãm mình, phạt xác. Ngài sống giữa chốn hoang địa không một bóng người lui tới, chẳng lấy gì sinh sống hằng ngày. Nhưng Chúa nhân từ, đã chẳng bỏ kẻ đã hết lòng tin tưởng Người; hằng ngày Người cho chim đưa lương thực đến cho ngài, như thánh Phaolô trên rừng vắng xưa. Qua một thời gian cầu nguyện, ngài liền trở về đất Hungari để thực hiện ý định truyền giáo, đem ánh sáng Phúc âm chiếu mọi nẻo đường đất Hungari.

Trở về với đất Hungari, ngài được chọn làm Giám mục cai quản một địa phận. Sau khi nhận chức, ngài hăng hái đi khắp địa phận để lo việc truyền giáo và giảng dạy mọi người. Lời ngài giảng rất sốt sắng và cảm động, đã thu hút được nhiều tâm hồn. Các nhà nguyện, thánh đường mọc lên như nấm thay thế cho bao đền thờ ngoại giáo. Để ghi ơn Đức Mẹ, Đấng ngài đã thành thực sùng kính hết lòng yêu mến, hết dạ trung thành từ tuổi thơ ấu, ngài đã cho xây cất một đền thờ rộng rãi nguy nga cung hiến Đức Trinh Nữ.

Toàn thể giáo dân mộ mến ngài như cha hiền. Kẻ giàu sang cũng như người nghèo hèn chạy tới ngài rất đông đúc, kẻ xin ngài dạy dỗ để tiến tới trên đường tu đức, người đến xin ngài giơ tay làm phúc bố thí. Ngài tiếp đón rất nồng hậu theo tình cha con, khiến mọi người khi ra về đều được thoả mãn.

Riêng đối với bậc quan quyền vua chúa không biết thương dân trị nước, ngài lại thẳng tay chê trách, không sợ hãi vị nể ai. Một bằng chứng cụ thể là ngài đã thẳng thắn cảnh cáo, ra vạ và khai trừ Aba, ông vua gian hùng hà hiếp dân chúng. Aba phải xấu hổ một phen, lòng đầy căm hờn, quyết báo thù Giám mục Giêrađô. Nhưng Chúa hằng che chở ngài, Aba đã phải chết một cách đau thương.

Aba qua đi, người kế vị ông là vua Amatô cũng không kém phần độc ác như ông. Dân chúng càng thêm thất vọng chán nản. Chính ngài đã đến khuyên, nhưng cũng không đem lại kết quả nào, trái lại vua càng thêm oán hờn giận ghét. Sau khi bị ngài ra vạ tuyệt thông, Amatô càng thêm giận ghét, hành hạ, bắt bớ các giáo hữu, ngăn cấm việc giảng đạo, triệt hạ các nhà thờ... và nhất định phá hủy đức tin công giáo. Một cơn bách hại ác liệt đã diễn ra trên đất Hungari, nhưng nhờ Giám mục Giêrađô, Giáo hội Hungari như có một vị tướng lãnh tài ba để đương đầu với cơn thử thách cam go. Giáo hội Hungari trong thời này, đã góp một số đông các thánh tử đạo. Các ngài đã hiên ngang xưng đức tin, dù phải gông cùm xiềng xích, máu chảy đầu rơi cũng không chút nao núng.

Nhiều linh mục và tu sĩ dòng bị tử hình; nhiều thánh đường nguy nga rực rỡ, biến thành những cung điện của quỷ thần; của cải Giáo hội bị tịch thu, xung vào quỹ quốc gia. Mặc dầu trong tình trạng ngặt nghèo này, Đức giám mục Giêrađô vẫn tin tưởng mạnh mẽ vào Chúa Quan phòng, đêm ngày ngài lo đọc kinh cầu nguyện và yên ủi các giáo hữu. Lần kia, trong lúc cầu nguyện giữa đêm khuya ngài than thở: “Lạy Chúa, xin che chở bênh vực con cái Chúa, xin Chúa cất những khốn khổ nặng nề cho chúng con. Xin Chúa mau cứu Giáo hội Hungari khỏi cơn lầm than”. Vừa dứt lời, ngài nghe như có tiếng Chúa phán:

“Giêrađô, con đừng sợ, hãy can đảm lên, ngày hôm nay Chúa sẽ cho con triều thiên tử đạo”. Thánh nhân rất hân hoan, ngày đêm những mơ ước nhận triều thiên quý giá đó. Sáng hôm sau, khi vạn vật còn đang triền miên trong giấc ngủ, ngài đã lên đường đi thăm một họ đạo đang phải khốn cực. Dọc đường ngài bị một toán quân xông vào bắt trói, đánh đập và làm đủ cực hình. Gặp ngài, chúng xông vào cấu xé chẳng khác chi những con hổ đói gặp mồi ngon.

Cuối cùng chúng đem ngài lên một mỏm đá cao định xô ngài xuống vực thẳm cho chết, nhưng Chúa đã làm phép lạ cứu chữa khiến ngài lăn xuống đáy vực nhẹ nhàng như một cánh hồng, nên toàn thân không bị một vết sây sát.

Trông xuống thấy thánh nhân đang quỳ gối chắp tay cầu nguyện dưới đáy vực, chúng liền lăn một tảng đá thật to xuống cho đè chết ngài; nhưng như có sức mạnh nào đó đã không cho tảng đá rơi trúng chỗ ngài quỳ. Thấy phép lạ Chúa làm để cứu mình và cho quân lính biết uy quyền Thiên Chúa, ngài càng sốt sắng cầu nguyện, đội ơn Chúa, và xin Chúa tha thứ cho kẻ thù địch, xin Chúa gìn giữ Giáo hội Hungari qua cơn bão táp.

Không còn phương thế làm hại ngài, chúng đem ngài lên lấy gươm đâm chết. Trước khi chết ngài đã lớn tiếng cầu nguyện: “Lạy Chúa, xin chớ chấp tội lỗi chúng, vì chúng không biết việc chúng làm”. Vừa dứt lời, ngài tắt thở, linh hồn bay về thiên quốc lĩnh triều thiên tử đạo như lời Chúa đã hứa cho ngài trong đêm cầu nguyện.

Thánh Giêrađô đã thắng trận khải hoàn ngày 24 tháng 9 năm 1046. Thi hài ngài được an táng ở nhà thờ Đức Mẹ. Năm 1083, người ta đào hài cốt lên phân phát cho các nhà thờ khắp nước Hungari giữ làm bảo vật.

Lạy thánh Giêrađô tử đạo, xin cầu cho chúng con đang phải chiến đấu dưới trần gian này, để một ngày kia được về thiên quốc cùng với ngài ca khúc khải hoàn mừng Chúa vinh quang.