Hạnh Các Thánh


Ngày 20 tháng 9

THÁNH ANRÊ KIM

 THÁNH PHAOLÔ CHUNG

VÀ CÁC BẠN TỬ ĐẠO

(1839-1846 và 1862-1867)

Năm 1984, Giáo hội công giáo Hàn quốc mừng lễ kỷ niệm 200 năm kể từ khi nhà học giả trẻ tuổi Li Sung Hung đến Bắc Kinh năm 1784 và được rửa tội tại đây, đoạn ông trở về quê hương với một số sách đạo và một ánh lửa đức tin, để rồi sau đó làm bùng cháy ngọn lửa đức tin công giáo tại Hàn quốc.

Ngày 6.5.1984, tại Seoul, Nam Hàn, lễ phong thánh đầu tiên đã được cử hành ngoài Rôma kể từ thế kỷ XIII, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã nâng 103 vị tử đạo lên bàn thờ và gọi dịp này là ngày vui mừng nhất, ngày trọng đại nhất trong lịch sử Giáo hội công giáo tại Hàn quốc. 103 vị tử đạo này tiêu biểu cho khoảng mười ngàn tín hữu kitô tử đạo tại Hàn quốc trong khoảng thời gian kéo dài gần 100 năm. Trong số 103 vị tử đạo này có 92 giáo dân thuộc đủ mọi giai cấp trong xã hội, 45 người nam và 47 phụ nữ. Cũng có vị linh mục đầu tiên tại đất nước Hàn quốc là Anrê Kim Têgôn và mười nhà truyền giáo Pháp. Trong số 103 vị tử đạo, 79 vị đã được phong chân phước năm 1925, họ là nạn nhân của cuộc bách hại đầu tiên, và 24 vị được nâng lên hàng chân phước năm 1968, là nạn nhân của cuộc bách hại sau này. Hàn quốc là quốc gia duy nhất trong lịch sử Hội thánh, bắt đầu theo đạo công giáo nhờ vào việc trao đổi mậu dịch với nước Trung Hoa. Công việc này thành hình là nhờ những nỗ lực của một nhóm học giả Hàn quốc đã tìm tòi, nghiên cứu về đức tin công giáo trong các sách vở mà ông Li Sung Hung đã mang về nước từ Trung Hoa. Những người giáo dân Hàn quốc này bắt đầu dạy giáo lý cho những người khác và rửa tội cho họ. Nhờ sự học hỏi sâu rộng, nhóm giáo dân công giáo đầu tiên này mới bắt đầu nhận thức được rằng: họ cần có một linh mục. Và như thế, một đại diện ngoại giao đoàn đã được gửi sang Bắc kinh theo lời yêu cầu này. Đức giám mục Bắc kinh đã chấp thuận liền ngay.

Và năm 1795, cha Chumuymô, vị linh mục thuộc giáo phận Bắc kinh đã trở thành nhà truyền giáo đầu tiên tại Hàn quốc. Sau sáu năm truyền giáo ở Hàn quốc, cha Chumuymô đã được phúc tử đạo. Cùng chịu tử đạo với cha lúc đó, có khoảng 300 người mới trở lại đạo. Những người chống Giáo hội công giáo đã tuyên truyền và gán cho đức tin công giáo là một cái gì chối bỏ quyền làm cha mẹ và nhà vua, và tuyên bố rằng các tín hữu kitô có ý đồ mang quân đội Âu châu sang thống trị đất nước.

Năm 1831, Toà thánh Vatican đã gửi các linh mục thuộc hội Thừa sai Paris đến làm việc cho Giáo hội công giáo tại Hàn quốc. Đức cha Batôlômêô Ruyghit và cha Phêrô Philipphê Môboong liền bắt đầu một cuộc hành trình dài và khó khăn xuyên qua Trung Hoa để đến Hàn quốc. Đức cha Ruyghit chết trước khi đặt chân lên đất nước Hàn quốc, nhưng cha Môboong thì được đến nơi vào năm 1863, và đến ngay thủ đô Seoul. Từ nơi ẩn náu, cha bắt đầu bí mật chăm sóc cho các tín hữu. Đức cha Lôrensô Giuse Maria Humbert được bổ nhiệm làm vị đại diện Toà thánh và đã đến Hàn quốc vào năm 1837. Sau đó nhà truyền giáo thứ ba lại đến. Nhưng vào năm 1839 thì cuộc bách hại bắt đầu. Đức cha Humbert cùng với hai nhà truyền giáo ngoại quốc lúc này đã ra trình diện với chính quyền, với hy vọng sẽ làm cho họ nguôi cơn tức giận các tín hữu. Tuy nhiên, cả ba đã bị tra tấn và bị hành quyết cùng với một số tín hữu Hàn quốc, cả đàn ông lẫn đàn bà. Những người khác thì phải chịu tù ngục hoặc phải đi đày. Sánh với cuộc đàn áp của năm 1801-1802, trong đó những vị tử đạo đều thuộc các gia đình vọng tộc. Lần này hầu hết các tín hữu thuộc giai cấp cùng đinh. Tổng cộng có 70 tín hữu bị chém đầu, 60 vị bị cắt cổ hoặc đánh cho đến chết, hoặc chết vì bị các vết thương làm độc. Hai thí dụ cho thấy đức tin và lòng can đảm mạnh mẽ của những vị tử đạo.

Ông Phaolô Chung, nhân công trong một xưởng dệt dây thừng, đã được rửa tội năm 30 tuổi, và đã hoạt động tích cực trong việc truyền bá đức tin công giáo bằng cách giấu ẩn các tín hữu trong vùng khi họ đến nhận lĩnh các bí tích. Ông đã bị bắt vào năm 1839, bị tống ngục và bị tra tấn dã man. Vì không chịu đựng được những cực hình, ông đã đồng ý chối đạo, và được trả lại tự do. Tuy nhiên, sau đó ông hối hận và trở lại nói với chánh án, là ông muốn rút lại lời tuyên bố chối đạo. Một lần nữa, ông bị bắt giam tù và bị đánh đập. Ông chết vì các vết thương làm độc, năm ấy ông 41 tuổi.

Một thiếu nữ trẻ, đẹp, mới 17 tuổi, tên là Agatha Dy, cùng với người em trai của cô đã bị đánh lừa là cha mẹ của cô đã chối bỏ đức tin. Agatha đã trả lời rằng: “Cha mẹ tôi có phản bội hay không, đó là quyền của họ, còn chúng tôi, chúng tôi không thể phản lại Chúa tể trời đất, Người mà chúng tôi hằng phục vụ”. Và như thế, Agatha đã bị hành quyết cùng với cha mẹ và người em trai của cô. Cả bốn người đã được phúc tử đạo. Năm 1845. Một thời gian ngắn sau đó, cha Anrê Kim đã trở thành nạn nhân của cuộc bách hại đạo dã man này. Cha đã bị chém đầu năm 1846. Trước ngày chịu tử đạo, cha Anrê Kim đã viết cho các tín hữu một lá thư, trong đó cha khuyên họ chấp nhận cuộc khủng bố như là một hành động của Chúa Quan phòng. Cha bảo các tín hữu rằng: Giáo hội Hàn quốc không thể miễn trừ khỏi Giáo hội khổ đau của Chúa Kitô và được làm cho lan rộng bởi những khổ đau của các tông đồ tiên khởi. Thời kỳ mười năm sau khi Đức cha Feriô đến Hàn quốc, đánh dấu một bước tiến mạnh mẽ của Giáo hội Hàn quốc, một linh mục địa phương thứ hai là cha Tôma Choi Giăng đã được chịu chức. Năm 1866, cuộc bắt đạo mạnh mẽ cuối cùng bùng nổ. Một lần nữa đe dọa tiêu diệt Giáo hội công giáo Hàn quốc. Hai vị Giám mục và bảy nhà truyền giáo khác bị tử hình. Ba nhà truyền giáo thoát chết và trốn được ra khỏi nước. Cho tới tháng 9 năm 1868 đã có 2.000 tín hữu kitô bị sát hại. Từ trong số người này, con số tử đạo tăng thêm là 103 vị. Dù được biết mười ngàn tín hữu kitô Hàn quốc đã chịu tử đạo, hội Thừa sai Paris vẫn không nản chí. Nhiều cố gắng đã được thực hiện để gửi các nhà truyền giáo vào trong quốc gia thù địch này.

Năm 1876, một linh mục Pháp đã được hướng dẫn viên Hàn quốc đưa vào nội địa. Năm 1877, một vị tân Giám mục vào nước. Ngài tên là Philipphê Claire Quyđăng, một trong những linh mục đã đào thoát khỏi cuộc bách hại đạo của năm 1866. Đức cha Quyđăng đã bị bắt. Nhưng nước Pháp gây áp lực trên Trung Hoa và Nhật Bản để ngài được trả lại tự do. Lệnh bãi việc chống Giáo hội công giáo có từ năm 1881, nhưng không được thi hành triệt để và một năm sau đó, các cuộc bách hại mới chính thức chấm dứt, nhờ hiệp ước ký kết với Hoa Kỳ. Một hiệp ước với nước Pháp năm 1886 đã đảm bảo được an ninh cho cả những nhà truyền giáo lẫn những người trở lại đạo. Như thế, những cuộc bách hại những nhà truyền giáo kitô đã trở thành chuyện quá khứ. Năm 1887, tại Hàn quốc đã có 5 linh mục và 12.500 tín hữu. Giáo hội Hàn quốc đã trải qua cuộc bách hại đạo dài gần 100 năm, một khoảng thời gian đánh dấu của gần 10 cuộc bắt đạo thuộc mọi cấp độ trầm trọng. Cuối cùng hạt giống kitô là máu của không biết bao nhiêu vị tử đạo kitô Hàn quốc, những người được biết đến, cũng như những người không biết đến, đã trổ sinh nhiều hoa trái. Giờ đây, con số tín hữu kitô Nam Hàn lên tới một triệu rưỡi. Tại Bắc Hàn hiện đang sống trong chế độ cộng sản, không có bản thống kê mới nhất về con số các tín hữu. Các tín hữu Bắc Hàn hiện vẫn một mực trung thành với đức tin, hẳn đã phải chịu đau khổ nhiều, và những nhân đức anh hùng của họ sẽ có ngày được biết đến. Trong khi chờ đợi ngày được tự do thực hành niềm tin của mình, nhưng tín hữu kitô đau khổ này rất cần đến những lời cầu nguyện của chúng ta.