|
Hạnh Các Thánh Ngày 23 tháng 6 CHÂN PHÚC GIUSE CAPHAXÔ LINH MỤC (1811-1860) |
Chân phúc Giuse Caphaxô sinh ngày 15-01-1811 tại làng Castelnuvô miền Asti thuộc địa phận Turinô nước Ý. Gia đình Caphaxô thuộc giai cấp trung lưu, đạo đức. Vì thế Giuse Caphaxô mang trong mình hai đức tính căn bản: lòng đạo đức, tế nhị của mẹ hiền và chí hăm hở của người cha quảng đại.Giuse Caphaxô có thân hình mảnh dẻ, ốm yếu, nhưng Thiên Chúa Quan phòng đã bù lại cho Caphaxô một trí khôn thông minh và một tâm hồn đạo đức hiếm có. Tuy còn nhỏ tuổi, Caphaxô đã nhiều lần làm cho các người trong gia đình hay bà con làng xóm phải chú ý đến tính nết ngoan ngùy, đạo hạnh và trí thông minh khác thường của cậu. Đó chính là những lần cậu nhịn ăn quà bánh để dành tiền giúp kẻ nghèo khó, hay những khi cậu bắt chước linh mục giảng dạy giáo lý cho các trẻ đồng tuổi. Vì trò chơi thường nhật của cậu là quy tụ các trẻ hàng xóm lại, rồi cậu nghiêm trang đứng lên giảng cho chúng nghe. Những lúc ấy cậu có tác phong chẳng khác gì một linh mục. Cậu giảng giải đơn sơ, khúc chiết. Nhiều lúc hứng khởi, cậu còn nói một cách rất hùng hồn và sốt sắng khiến các thính giả thường là bày trẻ, nhưng đôi khi cũng có cả người lớn tuổi phải tấm tắc khen ngợi và động lòng.Khi theo khoa hùng biện và triết lý ở Chiery, Caphaxô còn tỏ ra là một sinh viên xuất sắc, giầu lòng quảng đại và nhiệt thành với công tác truyền giáo cho các bạn sinh viên. Với đời sống khiết tịnh như thiên thần và với tinh thần trầm mặc suy niệm, lúc này Caphaxô đã được các bạn học xưng tụng là ‘một Lui Gonzaga thứ hai’. Mỗi việc làm, mỗi cử chỉ, lời nói của Caphaxô đều là những tấm gương sáng ngời đập vào mắt các sinh viên, khiến họ hết sức cảm phục và yêu mến.Nhưng trong yên lặng của tâm hồn, sinh viên Caphaxô vẫn âm thầm và say sưa hướng về một lý tưởng cao đẹp: lý tưởng linh mục. Năm 1826, Caphaxô xin vào đại chủng viện ở Chiery, và bảy năm sau, tức ngày 21-9-1833 thì ngài được thụ phong linh mục.Để công cuộc truyền giáo tương lai của cha có kết quả hơn, bề trên gửi cha theo lớp mục vụ ở Turinô. Sau khi mãn khóa, cha được cử giữ ghế giáo sư tại trường, và năm 1848 lại được làm bề trên trường mục vụ ở Convictô đồng thời kiêm chức giám đốc thánh đường kính thánh Phanxicô nghèo. Đời sống của cha lúc này hơn lúc nào hết càng chiếu giãi vẻ sáng ngời của nhân đức và thánh thiện, vì cha biết rằng cha đang phải nắm giữ một trách vụ nặng nề là hun đúc lòng đạo đức và chí tông đồ cho chính những linh mục, những người sẽ có nhiệm vụ phải thánh hóa các linh hồn. Vì thế cha ưa dùng gương sáng của việc làm hơn là những lời nói suông; trong những công tác lao động, cha luôn luôn là người hoạt động tiên phong; trái lại, khi nào phải chấp nhận danh vọng thì ngài lại là người cuối cùng. Cha làm mọi việc với tất cả lòng tin yêu và phó thác. Không ai biết lúc nào ngài ngủ, lúc nào ngài dậy, nhưng trong tất cả các giờ đạo đức chung, ngài đều có mặt trước hết.Cha còn vào hội dòng ba thánh Phanxicô để mặc lấy tinh thần khó nghèo hèn mọn của những tu sĩ áo nâu. Ngoài ra cha còn âm thầm hãm mình trong cách ăn uống, không hề dùng những thức cao lương mỹ vị, nhưng mỗi bữa thường chỉ có cháo và một món ăn thông thường. Tuy đời sống bận rộn với bao nhiêu công việc, nhưng không bao giờ cha bỏ lần chuỗi Mân Côi, vì biết rằng đó là một cách thế tốt đẹp tỏ lòng kính mến Đức Mẹ và bảo đảm ơn cứu rỗi. Hạnh phúc thiên đàng luôn luôn là một lời khuyến khích, một động lực thúc đẩy cha say sưa hoạt động và truyền bá Mầu Nhiệm Kinh Mân Côi; cha thường nói: “Bây giờ chúng ta hãy cứ hoạt động đi để rồi được nghỉ ngơi trên trời. Ý tưởng về Thiên đàng giúp chúng ta ổn định đời sống”. Tất cả hoạt động của ngài đều nhằm mục đích xây dựng đời sau và làm vinh danh Thiên Chúa. Với tinh thần hiền hòa của thánh Phanxicô Salê và những gương nhân đức ấy, cha gây được ảnh hưởng rất nhiều đối với các vị tân linh mục dưới quyền cha. Ngoài ra đó cũng là những lợi khí sắc bén giúp cha chinh phục được rất nhiều người thuộc bè Jansênitô và phong trào tự do chống lại quyền tối thượng của Đức Giáo Hoàng. Ngày nay người ta thường nhắc lại một câu nói bất hủ của ngài: “Ai muốn kết hợp với Thiên Chúa thì phải liên kết với Giáo Hoàng”.Tuy đảm nhiệm nhiều công tác quan trọng, nhưng không vì thế mà thánh nhân sao nhãng công việc chăn dắt linh hồn. Thường thường ngài ngồi giải tội từ sáng đến 10 giờ, và hầu như ai ai cũng chỉ muốn đến bàn việc linh hồn hay xưng tội với ngài, không phải vì ngài dễ dãi, nhưng vì mỗi người đều như tìm thấy ở ngài một nguồn an ủi dịu hiền, một động lực thúc đẩy họ cải tà qui chính và vững tiến trên đường tu đức lập công. Nhiều Giám mục cũng thường đến trao đổi, bàn hỏi ý kiến với ngài. Đức Tổng Giám mục Phancôni coi ngài như một vị cố vấn chắc chắn. Khi bị đi đày, Đức Tổng Giám mục cũng khuyên vị đại diện của ngài nên theo mọi ý kiến của thánh nhân. Thánh Don Boscô cũng chịu ảnh hưởng của cha Caphaxô rất nhiều, đến nỗi ngài phải thú nhận: “Nếu đời tôi có làm được điều gì cao quý, đó cũng là nhờ ơn cha Caphaxô đã giúp tôi”.Nếu cha Caphaxô đã quan tâm trong việc hướng dẫn linh hồn người ta, thì tấm lòng đó càng rộng mở hơn đối với những người bệnh tật và tù tội. Ngày ngày cha đều dành thời giờ để thăm viếng và an ủi các bệnh nhân. Cử chỉ ân cần săn sóc và lời khuyên nhủ hiền dịu của cha đã cải huấn được nhiều bệnh nhân trở lại dọn mình chết lành. Nhiều bệnh nhân chỉ mong sao trước khi chết được cha Caphaxô đến xức dầu và giải tội. Trong trường hợp gặp một bêïnh nhân thất vọng, chai đá, người ta liền tìm cha Caphaxô đến khuyên nhủ, và phần thắng bao giờ cũng về phía cha. Ngoài ra cha Caphaxô còn mở những cuộc lạc quyên để giúp những bệnh nhân túng thiếu. Hết giờ thăm viếng an ủi bệnh nhân, cha lại đi thăm những tù nhân. Để công việc làm có tổ chức và kết quả hơn, cha thiết lập một hội mệnh danh là “hội anh em từ thiện” với mục đích thăm viếng, ủy lạo những tù nhân và giúp họ tìm thấy đời sống hạnh phúc đời sau. Quả thực, không việc nào mà cha Caphaxô không nhằm mục đích tìm lợi ích cho các linh hồn.Bên những công việc bề bộn ấy, đôi khi cha còn nhận giảng những tuần tĩnh tâm cho các linh mục. Lời ngài nói và đời sống của ngài như những tia sáng sưởi ấm những tâm hồn khô khan và nhóm lên trong linh hồn các linh mục một nguồn phấn khởi cho công việc tông đồ.Sau bao nhiêu công việc nặng nhọc đầy công phúc, Chúa đã gọi ngài về chầu Chúa trong một trường hợp rất đơn giản. Năm 1860 thánh nhân được ơn soi sáng biết mình sắp đến ngày an nghỉ, tuy vậy ngài vẫn hăng hái tiếp tục giảng tĩnh tâm nhiều nơi. Một ngày kia, trong khi cha đang ngồi toà giải tội, thì có một người không hiểu vì duyên cớ gì đã lén lút đến đánh cha bất ngờ; cha bị trọng thương, và mười hai ngày sau thì ngài mệnh chung, tức ngày 23-6-1860. Sau khi ngài qua đời, người ta khám phá ra một bản di chúc đầy cảm động của một vị tông đồ nhiệt thành nhưng rất khiêm tốn như sau:“Tôi thành thực nhận rằng: trong quãng đời của tôi nơi trần gian này, tôi chỉ là thừa tác viên bất xứng của Chúa, chớ gì có một linh mục khác đầy nhiệt thành và hăng hái hơn, để bù lại sự nguội lạnh và thiếu sót của tôi. Khi thân xác hèn mọn này của tôi đã vùi kỹ chôn chặt dưới đất, thì xin ai nấy hãy quên tôi đi, tôi vui lòng nhận đền tội tôi và chấp nhận mọi điều người ta phản đối tôi”.Nhưng Thiên Chúa Quan phòng đã muốn ân thưởng tôi trung của Người, nên mặc dầu có lời di chúc khiêm tốn ấy, đám tang ngài vẫn được cử hành rất long trọng và người ta mai táng ngài trong thánh đường Consolata. Ngày 03-5-1929, ngài được chính thức tuyên phong lên bậc chân phúc.Người ta thường nói chết trong khi thi hành nhiệm vụ là một cái chết anh hùng, chân phúc Caphaxô quả đã được hồng ân đó. |