|
Hạnh Các Thánh Ngày 22 tháng 6 THÁNH PHAULINÔ GIÁM MỤC THÁNH GIOAN FISHER GIÁM MỤC THÁNH TÔMA MÁCPHIENĐÔ LINH MỤC TỬ ĐẠO |
1) THÁNH PHAULINÔ GIÁM MỤC(+431)“Là người tự do, tôi đã muốn hóa nên nô lệ cho mọi người, miễn sao kiếm được nhiều người về cho Chúa” (1Cr, 9,10)Lời thư thánh Phaolô trên đây đã được thánh Giám mục Phaulinô áp dụng triệt đê, treo gương bác ái một cách sống sáng ngời và cảm động.Thánh Giám mục Phaulinô là con một gia đình hiệp sĩ miền Bordeaux nước Pháp. Sẵn có tư chất thông minh lại hiếu học nên Phulinô học rất trổi vượt. Mọi người đều nhận thấy ở Phaulinô một thiên khiếu đặc biệt về thi văn và mỹ thuật. Bằng những áng thơ văn tuyệt tác và đầy tư tưởng xây dựng, Phaulinô đã chiếm được một chỗ ngồi xứng đáng trên văn đàn Pháp quốc thời bấy giờ. Chính thánh Giêrônimô đã không ngớt lời khen ngợi mỗi khi xem những bản văn của Phaulinô, Ngài còn đến khuyên Phaulinô tham khảo thần học và Kinh Thánh để rồi nhờ Phaulinô mang thức ăn tinh thần đến cho mọi người.Mãn học, Phaulinô được cử đi làm lãnh sự tại Rôma. Với chức cao quyền trọng và tài ba đức độ, Phaulinô đã thực hành được nhiều công tác xã hội ở nước Ý và đem lại nhiều kết quả khả quan cho nước Pháp.Sau một thời gian, ngài hồi hương và kết bạn với Têraxia, một thiếu nữ duyên dáng và đức hạnh. Nhưng cũng chính trong thời gian này Chúa đã muốn kêu gọi hai người bạn trẻ sống đời tận hiến cho Chúa. Đáp lại tiếng Chúa mời gọi, cả hai cùng đồng ý ly hôn, hy sinh hạnh phúc gia đình để rồi sống coi như anh em ruột và nâng đỡ nhau trên đường tu đức.Tự thấy mình còn thiếu khôn ngoan và sáng suốt trên đường phụng sự Chúa, Phaulinô không quản đường xa dặm thẳng và tốn phí tiền bạc để đến Ý lĩnh nhận lời giáo huấn của nhiều bậc tu đức lão thành như thánh Ambrôsiô, thánh Giêrônimô và Đức Giám mục Lampia ở Tây Ban Nha. Thấy Phaulinô là người có khả năng và đức độ, Đức Giám mục Lampia đã truyền chức linh mục cho ngài. Trở về, Phaulinô còn đi viếng thánh địa để được chiêm ngắm những di tích của Chúa Giêsu hầu thêm lòng mến yêu Người hơn.Sau khi đã hấp thụ những lời giáo huấn khôn ngoan và cảm kích trước những nơi lưu dấu của Chúa, Phaulinô trở về quê hương với tâm hồn đầy tràn ơn Chúa. Ngài bán gia sản để lấy tiền xây cất một thánh đường nguy nga đồ sộ. Còn lại bao nhiêu ngài đem phân phát hết cho kẻ nghèo khó. Rồi với hai bàn tay trắng, Phaulinô ra sống ngoài cánh đồng hẻo lánh gần thị trấn Nolê để dễ bề lo việc thiêng liêng. Một túp lều tranh tiều tụy đứng chơ vơ giữa cánh đồng đã trở thành một nhà nguyện đầy hương kinh dâng lên Thiên Chúa.Sau một thời gian mai danh ẩn tích, sống vất vưởng bằng những của bố thí, Phaulinô đã khám phá ra chân giá trị của đức khó nghèo, mà ngài đã vui lòng bỏ tất cả mọi sự để có đức đó. Thực vậy, tuy nghèo khổ về vật chất, nhưng ít ai giầu có bằng ngài về phương diện thiêng liêng. Chính vì thế, sau một thời gian, tiếng tăm nhân đức của ngài đã vang dậy khắp nơi. Từ muôn phương, người ta đổ dồn về mái nhà tranh rách nát ấy để được lĩnh nhận những lời giáo huấn khôn ngoan và cảm kích của thánh nhân. Người ta mang đến dâng cho ngài nhiều tiền của, nhưng ngài chỉ cám ơn họ rồi từ chối hết.Nhưng ở đời sự thiện và điều ác hình như bao giờ cũng đi kèm nhau như bóng với hình. Kẻ khen ngài cũng lắm, nhưng cũng không thiếu những kẻ chê bai dèm pha ngài. Những kẻ thiếu tâm tình đạo đức thì cho ngài là một con người điên không hơn không kém; còn những người đạo đức lại đem lòng mộ mến và kính ngài như một vị thánh sống. Từ Đức Giáo Hoàng Anathasiô cho tới các vị thánh hữu danh như Ambrôsiô, Âutinh đều năng đi lại với thánh nhân, hoặc liên lạc bằng thư từ để trao đổi ý kiến và xin những lời chỉ giáo của ngài. Riêng phần ngài, ngài hết sức ăn ở khiêm nhường và giữ đức khó nghèo chu đáo. Đêm ngày ngài chỉ lo lắng làm đẹp lòng Chúa bằng những lời kinh nguyện sốt sắng, và bằng những việc hy sinh phạt xác. Tuy nghèo nàn, nhưng ngài lại không hề từ chối một dịp nào có thể làm phúc cho kẻ khó. Một ngày kia, có người hành khất tới xin ngài làm phúc. Trong nhà bấy giờ chỉ còn một chiếc bánh nhỏ; nhưng ngài bảo Têraxia: “Cứ mang cho họ chiếc bánh đó, rồi Chúa sẽ trả lại”. Têraxia sợ ngài chết đói nên đã giữ lại chiếc bánh kia. Gần đến bữa, ngài cùng Têraxia ra hải cảng đón những chiếc tầu mang bánh mì. Nhưng tất cả đều mất tăm. Thánh nhân liền nói với Têraxia: “Đó chị xem, chỉ vì chị từ chối không cho kẻ khó một chiếc bánh mà Chúa phạt chúng ta mất cả một tầu bánh mì”.Ngài sống nhân đức và bác ái như thế nên ai cũng đem lòng mến yêu kính phục. Bằng chứng là khi Đức Giám mục địa phận từ trần thì toàn thể tu sĩ và giáo dân đều mong muốn ngài làm Giám mục quản nhiệm địa phận Nôlê. Biết không thể từ chối được, ngài đành vui lòng cúi mình lãnh nhận gánh nặng Chúa trao và nguyện phó thác toàn thân để phụng sự Chúa trong chức vụ mới. Với ý thức trách nhiệm và lòng tận tụy, thánh nhân hết lòng lo lắng cho con chiên. Ai ai cũng thấy nơi ngài tấm lòng của một người cha hiền. Ngài đã đưa biết bao con người tội lỗi về làm tôi hiền con thảo của Chúa. Ngoài việc truyền bá Phúc âm và chăn dắt đoàn chiên, thánh nhân còn dành nhiều thời giờ thăm viếng, an ủi những người đau ốm, và làm phúc bố thí cho những người nghèo khó tàn tật...Lòng bác ái chân chính còn đưa ngài đến những hành động phi thường vượt khỏi quan niệm hẹp hòi của những con người thế tục. Khi ấy quân Vandales đang tung hoành phá hoại Phi châu; chúng cũng tràn qua cướp bóc và bắt làm nô lệ nhiều người thuộc địa phận của thánh nhân; trong số đó có người con trai độc nhất của một quả phụ nghèo khó. Đứt ruột vì phải mất con, bà chạy tới khẩn khoản xin Đức Giám mục Phaulinô giúp tiền bạc để chuộc lại đứa con. Nhưng rủi tiền bạc thánh nhân đã cho đi hết. Trước cảnh thương tâm này, Đức Giám mục Phaulinô không còn biết làm gì hơn là nhìn bà quả phụ với cặp mắt mờ lệ và trái tim lân tuất. Nhưng rồi bỗng nhiên mắt ngài sáng lên: ngài đã nghĩ ra cách giải thoát con bà khỏi vòng nô lệ. Ngài tới gần quả phụ và nói với giọng đầy thành thật: “Tôi sẽ làm nô lệ thay con bà, như vậy mẹ con bà sẽ lại được chung sống với nhau”. Đầu tiên quả phụ kia rất ngạc nhiên, nhưng Đức Giám mục cử tiếp tục dùng lời khôn khéo giải thích. Do đó một phần vì tình mẫu tử quá mật thiết, một phần vì dạ thành thật thông cảm của thánh nhân, quả phụ ấy đã ưng nhận để một vị Giám mục làm nô lệ thay con mình. Rồi một buổi sáng tinh sương, thánh nhân và bà quả phụ kia vượt đường xa dặm thẳng sang Phi Châu gặp nhà vua để thương thuyết. Trông thấy khuôn mặt khôi ngô tuấn tú và dễ thương của thánh nhân, người ta đã đồng ý cho ngài làm nô lệ thế con bà quả phụ. Thế là Đức Giám mục Phaulinô thành người nô lệ làm vườn cho nhà vua, và con bà quả phụ được trở về tự đo. Tuy chưa bao giờ đóng vai một tên nô lệ, nhưng thánh nhân đã gây được thiện cảm với Hoàng đế và mọi nhân vật trong triều. Vì thế, một hôm vua cho gọi ngài tới và hỏi xem thân thế, sự nghiệp của ngài. Thánh nhân vẫn khiêm tốn trả lời: “Tâu Hoàng thượng, tôi chỉ là một người làm vườn”. Nhưng một đêm kia, trong giấc chiêm bao, Hoàng đế trông thấy Phaulinô mang y phục của vị chánh án ung dung đứng giữa các quan toà khác. Thấy điềm lạ, nhà vua sợ hãi. Hôm sau vua cho mời thánh nhân lên ăn đồng bàn và bắt ép ngài phải nói thân thế ngài cho vua nghe. Vì tinh thần vâng lời và nhận thấy đây là cơ hội thuận tiện có thể cứu được nhiều người thoát ách nô lệ, nên thánh nhân thú thực đầu đuôi câu chuyện và cho biết ngài là Giám mục địa phận Nôlê. Hoàng đế vừa sửng sốt, vừa cảm phục, đã hạ lệnh giải phóng cho thánh nhân, đồng thời hứa sẽ ban nhiều đặc ân theo ý ngài muốn. Giám mục Phaulinô chỉ xin Hoàng đế một đặc ân là giải phóng cho tất cả những người nô lệ, nhất là những người thuộc địa phận của ngài. Vua chẳng những chấp thuận điều ngài xin mà còn cấp cho ngài cả một tầu đầy bánh mì làm lương thực đi đường.Tin Đức Giám mục Phaulinô và đoàn người bị bắt được giải phóng đã gieo một niềm hân hoan vô bờ bến cho toàn dân Ý, nhất là cho giáo hữu địa phận Nôlê. Người ta nô nức đi đón vị anh hùng của bác ái. Từ thành thị tới thôn quê cờ xí nổi lên rợp trời đón mừng ngày về của thánh nhân.Không bao lâu sau, vì tuổi già sức yếu, thánh nhân ngã bệnh nặng. Người ta lũ lượt kéo đến thăm viếng ngài không ngớt.Với thời gian, bệnh của ngài ngày càng trầm trọng. Nằm trên giường bệnh, ngài luôn đọc hoặc ca hát thánh vịnh. Đến bốn giờ sáng ngày 22-6-431 thì ngài từ giã cõi đời khổ hải để về hưởng dung nhan Chúa. Cả địa phận Nôlê đau đớn chịu tang vị Giám mục khả kính, nhưng ai nấy lại mừng thầm vì đã trông thấy một vị thánh sống nơi trần gian.Xác ngài được an táng tại nhà thờ thánh Batôlômêô ở Rôma.Hôm nay mừng lễ thánh Phaulinô, chúng ta hãy xin thánh nhân giúp chúng ta thâm hiểu rằng: “Không có bác ái, công việc bên ngoài là việc chết, nhưng một việc dù nhỏ bé tầm thường đến đâu, mà làm vì bác ái thì sẽ có ích lợi vô song. Vì Chúa không xét việc ta làm bằng xét ta có bác ái hay không, và bác ái nhiều tức là làm nhiều” (Gương Chúa Giêsu).2) THÁNH GIOAN FISHER GIÁM MỤC(1469-1535)Thánh Gioan sinh tại Beverly Yorkshire, là con của một thương gia giầu có. Cha ngài đã qua đời năm 1477. Khoảng năm 1482, ngài được mẹ gửi tới đại học Cambridge và đã trở thành một học giả nổi danh. Năm 1491, ngài thụ phong linh mục. Sau mười năm học thần học, ngài đậu bằng tiến sĩ thần học. Năm 1501, và sau này ngài được coi như một trong các nhà thần học hàng đầu của Âu Châu.Trường đại học sớm nhận ra khả năng quản trị của ngài, lần lượt ngài đã giữ chức vụ giám thị, phó chưởng ấn, rồi chưởng ấn. Năm 1514, ngài được chọn làm chưởng ấn suốt đời.Ngài được đặt làm Giám mục Rochester năm 1504, và ngài đã là một vị mục tử chân chính, lo khích lệ các linh mục bằng cách sống của mình và bằng sự quan tâm tới cuộc sống của các ngài, là một nhà giảng thuyết thời danh, ngài làm hết sức để có thể cung ứng cho Giáo hội các linh mục đầy đủ khả năng giảng dạy dân chúng.Do ảnh hưởng của ngài mà Erasmô được đưa vào giảng dậy tiếng Hy lạp ở đại học Cambridge. Erasmô, Tôma Morê cũng được trở thành bạn thân của Gioan Fisher. Năm 1516, có bản văn ghi chép về cả ba nhân vật này ở Rochester. Ngài Tôma Morê làm tổng quản lý đại học Cambridge. Từ năm 1525 đến những năm sau đó, Tôma và Gioan Fisher hợp tác với nhau để đáp ứng nhu cầu chống lại lạc thuyết của Lutherô. Đức Giám mục Gioan Fisher đã viết cuốn “CONFUTATIO” (1523) bằng tiếng Latinh. Đó là cuốn sách của thần học gia viết cho các thần học gia. Người cũng viết cuốn “Dialogue Concerning Heresies” (1528) cho giới bình dân.Năm 1527, năm định mệnh cho nước Anh vì là lúc vua Henricô VIII đi bước đầu tới việc tiêu hủy hôn nhân của ông với Catirina miền Aragon. Năm 1501, bà thành hôn với Arthur, anh của vua. Nhưng được sáu tháng thì Athur từ trần. Năm 1509, Đức Giáo Hoàng cho phép vua được thành hôn với người vợ góa của anh mình. Về sau, vì không có con trai để nối dòng, ông tìm cách phá hủy hôn nhân này vịn cớ là phép chuẩn của Đức Giáo Hoàng không thành. Đức Hồng Y Wolsey hỏi ý kiến Đức Cha Gioan Fisher. Sau khi nghiên cứu đầy đủ, Đức Giám mục Gioan kết luận là phép chuẩn của Đức Giáo Hoàng thành. Ngài giữ vững lập trường này mãi. Henricô coi sự chống đối này như một hành vi bội phản.Năm 1534, có luật thừa kế. Luật này tuyên bố rằng hôn phối với Catarina là vô hiệu và hôn nhân với Anna Boleyn là hợp pháp. Quyền kế vị thuộc về con bà ta. Mọi người phải thề nhận trọn đạo luật này. Đức Giám mục Gioan Fisher từ chối. Tôma More cũng vậy, bởi vì đạo luật bao hàm việc coi phép chuẩn của Đức Giáo Hoàng là bất thành.Ngày 17-4-1534, Đức Giám mục Gioan Fisher được phong làm Hồng Y. Điều này làm nhà vua giận dữ và vội vã lập toà án chống lại Đức tân Hồng Y.Ngày 17-6-1534, ngài bị xử là bội phản. Ngày 22, ngài bị chém đầu, thân xác trần trụi của ngài bị bỏ lại pháp trường cho đến khi được chôn cất vội vã không một nghi thức tang lễ. Đầu ngài bị treo ở Luân đôn Bridge cho tới ngày 06-7 rồi bị ném xuống sông Thames... nhường chỗ cho đầu bạn ngài là Tôma Morê.3) THÁNH TÔMA MORÊ, LINH MỤC TỬ ĐẠO(1616)Một trong những biến cố đau thương nhất Giáo hội phải chịu trong thời phục hưng là việc Hoàng đế Henricô VIII vua nước Anh tuyệt giao với Toà thánh Rôma. Ông này, vì muốn thoả mãn dục vọng, năm 1527, đệ đơn xin Đức Giáo Hoàng Clêmentê VII cho ly hôn với Hoàng hậu Catarina để cưới bà Anna Bolyn. Nhưng với bổn phận bảo vệ hiệu lực của bí tích hôn phối, và xét thấy không đủ lý do chính đáng, Đức Thánh Cha cương quết khước từ. Trước thái độ cứng rắn hợp lý của Đức Thánh Cha, Hoàng đế Anh Quốc không những đã ngang nhiên đuổi theo dục vọng mù quáng mà còn cả gan lập một “công giáo Anh quốc tự trị”, cũng gọi là Anh Giáo tách biệt khỏi Toà thánh Rôma. Sau nhiều lần chinh phục vô hiệu quả, năm 1584, Đức Clêmentê VII buộc lòng ra vạ tuyệt thông Hoàng đế Henricô VIII và những người đi theo ông. Kể từ đây, Anh Quốc trở thành xứ truyền giáo đầy gian lao, thấm đẫm máu đào của từng đoàn chiến sĩ Chúa Kitô. Thánh Tôma Morê linh mục chúng ta mừng lễ hôm nay là một trong những ngôi sao sáng của đoàn chiến sĩ anh hùng ấy!Thánh Tôma Morê, người miền Staffordshire, một miền phì nhiêu nhất thuộc miền trung nước Anh. Với những dãy núi trập trùng bao quanh, Staffordshire còn là một thắng cảnh tụ hội các du khách về mùa hè, và các thể thao gia về mùa đông! Mặc dầu chào đời giữa lúc cha mẹ còn bị giam cầm vì đức tin, Tôma nhờ ơn Chúa và khung cảnh thiên nhiên thơ mộng ấy, đã lớn lên với một tâm hồn chiêm niệm sâu sắc! Khác xa những mầm non thi sĩ lãng mạn của mọi thời, Tôma đã khéo mượn lời thơ, dệt nên những bài ca nguyện sốt sắng và giầu ý tưởng thần học. “Bác ái và trinh khiết” là hai bà chúa đã khiến Tôma nhiều thi hứng nhất!Tôma mãn trung học và khoa văn phạm tại quê nhà. Năm 1603, ngài được cha mẹ lén gửi đi ngoại quốc học thần học để chịu chức linh mục. Ngài học tại Douai, một thành phố cổ thời của nước Pháp. Nhưng sau hai năm thần học, Tôma ngã bệnh và phải trở về nước Anh. Ngài tiếp tục học cho tới năm 1614 thì được thụ phong linh mục và lãnh sứ mệnh truyền giáo tại quê hương xứ sở của ngài.Việc giảng đạo lúc này thật vất vả! Đoàn truyền giáo, hầu hết là các cha dòng Tên, dù phải lén lút, giả trang, tàng hình... cũng không sao tránh được con mắt dòm ngó của những nhân viên công an. Ngày nào cũng có những linh mục bị bắt, bị trục xuất hay bị ra toà hình tội! Hạnh phúc đó một ngày kia cũng đến với cha Tôma Morê. Ngài bị bắt vào một buổi sáng mùa xuân năm 1616, khi vừa làm lễ song, và ngài còn đang quỳ triền miên trong lời cầu nguyện tạ ơn. Lúc tạm giam trong một phòng cao tại tư dinh ông Quận trưởng, cha Tôma đã tìm dịp liên lạc được với một cha dòng Tên vốn là cha giải tội của ngài. Theo lệnh của cha này, cha Tôma phải liệu vượt qua cửa sổ trốn về một họ đạo hẻo lánh gần đó. Cha Tôma vâng lệnh. Nhưng ý Chúa Quan phòng lại định liệu thể khác. Vừa xuống khỏi cửa sổ, cha rủi trượt chân rớt xuống và bị lính cận vệ của ông Quận trưởng bắt lại.Từ hôm đó, cha Tôma bị tra tấn và cùm xiềng nghiêm khắc hơn. Họ bắt cha nằm, trói chân tay vào bốn chân bàn. Đến sau họ lại bắt cha xuống một cái hầm tối, ở đó họ xích tay chân, bắt cha đeo gông và đứng khom lưng suốt 70 giờ đồng hồ. Suốt đêm lạnh giá, cha không được khoác một manh áo mỏng hay đắp một tấm chăn đơn! Dầu vậy cha vẫn yên lặng chịu đựng, hầu như tuyệt đối, không kêu ca một lời nào. Những giáo hữu cũng bị giam và cả bọn lính canh ngục cảm động không ít vì đức tin và dạ can trường của cha.Sáng ngày 26-6-1616, cha bị đưa ra toà, để ép buộc nhìn nhận những chỉ thị trái với đạo Công giáo, nhưng cha một mực từ chối. Quan toà hỏi cha: “Vậy ông không yêu tổ quốc à?” – Cha trả lời dõng dạc: “Tôi thành tâm yêu mến tổ quốc. Và chính vì lòng yêu mến tổ quốc, tôi cương quyết trung thành với Đấng đại diện Thiên Chúa. Không ai yêu tổ quốc hơn người trung thành với đức tin”.Sau đó cha Tôma bị kết án tử hình. Nội dung bản án như sau:“Linh mục Tôma Morê, một công dân phản quốc, cả gan từ chối đạo Tinh lành của quốc dân để đi theo toà thánh Rôma. Y lại lẩn lút, cộng tác với các giáo sĩ ngoại bang, quyến rũ dân chúng bỏ đạo cha ông. Tội y đã nặng, nhưng thái độ ngoan cố mà y cho là trung thành với đức tin, lại càng làm tăng thêm tội trạng của y. Vì thế, chiếu theo các sắc lệnh và khoản luật của Hoàng đế, toà tuyên án y như sau: Ngoài pháp trường, linh mục Tôma bị treo cổ cho đến khi gần chết, rồi bị phanh thây, chặt tay và mổ bụng. Ruột gan được ném vào lửa, và đầu sẽ bêu đủ ba ngày để làm gương”.Khi bản án được công bố, nhiều người bùi ngùi xúc động, có người tỏ vẻ công phẫn vì bản án quá dã man. Chính ông đại sứ Tây Ban Nha tại nước Anh, đã lấy tư cách là một nhà ngoại giao can thiệp để xin chính phủ Anh hoặc tha bổng, hoặc giảm án cho cha Tôma. Tuy nhiên mọi can thiệp đều vô hiệu quả. Ngày 01-7-1616, cha Tôma từ giã các bạn tù cùng trại, lên đường tử đạo. Trung thành với bản án, người ta triệt để thi hành không sót một chữ. Vì thế cha Tôma, mặc dầu được ơn Chúa nâng đỡ, đã phải chịu một cực hình dã man và đau đớn trước khi về trời!Trong số những khán giả chen chúc tại pháp trường có nhiều người động lòng cảm mến. Họ đem hoa nến và những đồ trang hoàng quý giá đến phủ lấy di hài của thánh tử đạo. Họ còn viết lên băng vải những lời cuối cùng của cha: “Tôi thuộc số các tiên tri đã được sai đến (Jér 14,14). Vì chính bộ truyền giáo đã cắt cử tôi phục vụ đồng lúa Phúc âm tại quê hương thân yêu của tôi. Nhưng lạy Chúa, đồng bào của con đã không đón nhận con, xin Chúa thứ tha cho họ, và con xin phó thác thần trí con trong tay Chúa”.Ngoài ra, trước khi bị bắt, cha Tôma còn viết cho anh em sinh viên trường Douai một bức thư rất cảm động, thổ lộ lòng tin sắt đá và ý chí truyền giáo của cha. Cha kết thư bằng lời: “Cám ơn Chúa đã ban cho quê hương tồi tàn đáng thương của con nhiều hạt giống Phúc âm tốt đẹp”.Cha Tôma Morê được Đức Giáo Hoàng Piô XI phong lên bậc Chân phúc năm 1929. Và ngày nay giáo hội mừng lễ kính ngài ngày 22-6 hằng năm. |