|
Hạnh Các Thánh Ngày 14 tháng 6 THÁNH PHAMPHILÔ LINH MỤC
và
HAI VỊ TỬ ĐẠO |
Trước thánh Giêrônimô, thánh Phamphilô chúng ta mừng kính hôm nay là người đã góp công rất nhiều trong việc phiên dịch, chú giải và phổ biến Thánh Kinh. Nhưng thực ra đức tin và đời sống thánh thiện của ngài còn đáng ca tụng hơn những sự nghiệp vĩ đại ấy. Vì lẽ chính đức tin đã hướng dẫn ngài tìm học chân lý để rồi say mê truyền bá và trung thành nắm giữ cho đến độ phải đổ máu đào ra minh chứng.Phamphilô ra đời khoảng hậu bán thế kỷ III tại Bêrytê một làng thuộc miền duyên hải xứ Phênixia. Nhờ được sinh trưởng trong một gia đình quí phái và được hấp thụ một nền giáo dục chu đáo, nên Phamphilô tiến bộ rất nhanh cả về hai mặt đức dục và trí dục. Trong khi còn theo học tại trường làng, Phamphilô đã tỏ ra một trí khôn minh mẫn đặc biệt về văn chương. Lớn lên cậu lại được cha mẹ gửi theo học tại nhiều thành phố nổi tiếng về văn học thời bấy giờ. Nhờ đó Phamphilô am hiểu nhiều trào lưu triết lý đương thời và đặc biệt thành thạo về khoa hùng biện. Vốn liếng trí thức và tài văn chương đó sẽ giúp ngài thâu lượm được nhiều kết quả trong việc truyền giáo sau này.Với tài ba lỗi lạc và gia cảnh giầu sang như thế, mộng công danh, công hầu bá tử đối với Phamphilô hẳn không có chi là xa vời, hay bắt khả. Khác với dự đoán của mọi người, Phamphilô đã không màng tưởng địa vị, giầu sang, nhưng lại vui chọn đời sống tận hiến để phục vụ Chúa và các linh hồn. Để thực hiện ý nguyện đó, trước tiên ngài đến học Kinh thánh với cha Piêriô, một nhà thuyết giáo thời danh bấy giờ, để đào tạo cho mình một căn bản giáo lý vững chắc đồng thời sắm lấy những kinh nghiệm cần thiết cho việc truyền giáo sau này. Sau đó ngài đi Cêsarêa và thụ phong linh mục ở đó.Cũng như con tằm sau bao ngày ăn lá để rồi sẽ nhả ra những sợi tơ vàng óng chuốt, thì đây cũng là lúc cha Phamphilô bắt đầu thực hiện những công trình truyền giáo tốt đẹp sau bao ngày nung nấu chuẩn bị. Không phải chỉ thu hẹp trong lĩnh vực giáo thuyết, cha còn muốn đem bồi đắp cho nền văn hoá của xứ sở những kiến thức về khoa học và triết lý mà cha đã thâu lượm được. Làm như thế cha còn có hy vọng tới gần và thu phục những người trí thức để rồi dẫn đưa họ về với Thiên Chúa, nguồn mạch của chân lý. Vì nhận thấy sách vở công giáo còn quá ít ỏi, nhất nữa Kinh thánh lại chỉ được một số rất ít người biết đến, nên cha đã cố gắng phát động một phong trào văn hoá công giáo bằng cách mua sách về phát không cho bổn đạo. Cũng nằm trong chương trình đó, cha đã tổ chức, tu bổ và mở rộng thư viện của Origênê ở Cêsarêa hầu đón tiếp được nhiều người tới thưởng lãm. Thỉnh thoảng cha lại tổ chức những buổi học hỏi giáo lý ngay trong thư viện ấy. Nhờ những buổi học hội này, nhiều người trí thức cũng như bình dân đã tiếp nhận ánh sáng chân lý và trở về với Chúa. Bên cạnh thư viện khổng lồ ấy, cha Phamphilô còn thiết lập một trung tâm hướng dẫn những người công giáo trí thức nghiên cứu Kinh thánh và các trào lưu tu đức. Từ đó, Cêsarêa trở thành trung tâm sinh hoạt công giáo quan trọng vào bậc nhất thời ấy, đồng thời là nơi gặp gỡ của nhiều học giả sinh viên và tu sĩ thuộc các dòng khác nhau từ muôn phương kéo đến. Ảnh hưởng truyền giáo của cha Phamphilô trong công việc này thật đáng kể. Người người đều cảm phục yêu mến tin theo chân lý như ngài, con đường cũng như chẳng còn xa.Song đối với hoạt động trên, cha còn có một đời sống cá nhân có thể nói được là biểu hiện trung thành những lời khuyên trọn lành của Phúc âm mà ngài hằng nghiền ngẫm. Người ta thấy cha sống rất bình dân và bần hàn; đồ ăn thức uống cho đến áo quần cha dùng nhất nhất đều đơn sơ, nghèo khó. Cha sống nghèo khó như thế, điều đó cũng dễ hiểu là vì có bao nhiêu tiền của, cha chỉ đem phân phát hết cho những người túng thiếu, bần cùng, hoặc chi tiêu vào việc mua sách vở cung cấp cho thư viện mà cha đã thiếp lập. Cha ham đến chuyện vãn với Chúa Giêsu Thánh Thể lâu giờ và nhiều lần trong một ngày, vì thế mà người ta đã phải kháo láo với nhau rằng: Muốn tìm gặp cha mà không thấy ở phòng thì cứ đến nhà thờ là sẽ thấy ngay. Nhờ đời sống đạo đức và mật thiết với Chúa như thế, mỗi ngày cha càng tiến sâu trong sự hiểu biết và yêu mến Chúa.Đời sống tốt đẹp ấy đã đáng Chúa ân thưởng xứng đáng bằng nhiều ân huệ đặc biệt mà ơn trọng đại nhất cũng là hợp với sở nguyện của cha chính là phúc tử đạo.Cha bị bắt giam vào quãng năm 307, dưới đời Hoàng đế Mácximinô Đaia II theo lệnh của thị trưởng Ubanô. Sử gia Êusêbiô, người bạn chí thiết của cha Phamphilô, cho ta biết lý do cuộc bắt bớ này chỉ vì cha là một linh mục công giáo nhân đức và có nhiều ảnh hưởng đối với quần chúng. Trước thái độ bắt khẳng của cha, thị trưởng Ubanô truyền tra tấn hành hình rất dã man, rồi giam cha vào ngục. Ít lâu sau, ông phải mất chức vì bị thất sủng và ông Firmilianô được cử đến thay thế. Ông này không xử ngặt quá với người công giáo; nhưng một mặt ông cũng không xét hỏi gì đến số phận những người còn bị giam trong tù ngục, thành thử cha Phamphilô vẫn cứ bị giam hoài mà không được nhìn đến. Thời gian tù ngục này kéo dài gần hai năm. Lợi dụng những giờ khắc “thư thái” đó, cha soạn lại những tác phẩm minh giáo của Ôrigênê. Ngoài giờ suy nghĩ để viết lách, cha lại triền miên trong kinh nguyện hay suy niệm Thánh Kinh. Nhờ đó cha có thể chịu đựng cảnh lao tù một cách vui vẻ và điềm tĩnh lạ thường. Niềm vui đó đã lây sang cả những tín hữu đồng cảnh ngộ với cha và đã khích lệ họ rất nhiều.Đến sau vì sợ Hoàng đế giáng chức, thị trường Firmianô buộc lòng phải thi hành sắc lệnh cấm đạo của nhà vua một cách tích cựu. Kết quả cuộc ruồng bắt đầu tiên gồm năm tín hữu người Ai cập, hai người bạn đã được thánh Phamphilô hướng dẫn tới đời sống thiêng liêng, hai người khác đã từng giúp việc cho thánh nhân tên là Porphyriô và Thêođulô; sau cùng là hai thầy Valens và Phaolô. Đó là mười một vị cùng được phúc tử đạo và cùng được tôn kính một ngày với thánh Phamphilô. Sau đây là mấy dòng vắn tắt, mà sử gia công giáo Êusêbiô ghi lại thân thế cũng như về cái chết anh dũng của các ngài.Đầu tiên để thị oai, đồng thời hy vọng khuất phục được những chiến sĩ của Chúa Kitô, ông Firmianô hạ lệnh hành hình năm người Ai cập trước. Nhưng nhờ ơn Chúa và lời khích lệ của cha Phamphilô, năm tín hữu này đều một niềm son sắt, trung kiên đến cùng, họ thà chết chẳng thà chối Chúa.Sau đó đến lượt thầy phụ tế Valens thuộc giáo đoàn Aêlia. Thầy có vẻ mặt cương nghị và oai nghiêm với bộ râu dài và mái tóc bạc phơ. Thầy rất thông thạo Thánh kinh, bằng chứng cụ thể là thầy có thể đọc thuộc lòng một cách trơn tru từng đoạn dài của sách Thánh. Tuy đã già nua và gầy còm, ốm yếu, nhưng chí bất khất của thầy ít người sánh kịp.Còn thầy Phaolô, một công dân của thành phố Jamnia là người rất nhiệt thành và sốt sắng. Trông thấy thầy người ta có cảm tưởng rằng thầy được đầy tràn ơn Chúa Thánh Thần. Trước khi được lĩnh triều thiên tử đạo, thầy đã bị tra tấn và hành hạ nhiều hơn cả mọi người.Sau những cuộc tra tấn dã man và khai cung vô hiệu, ngày 16-2-309, tỉnh trưởng Firmianô hạ lệnh kết thúc đời sống 12 vị bằng những cái chết tàn ác. Cha Phamphilô, thầy Valens và thầy Phaolô bị án trảm quyết, còn chín vị khác bị thiêu sống từng phần thân thể. Lần lượt kẻ trước người sau, các ngài đã từ giã cõi đời để về trời lĩnh thưởng bội hậu và nếm hoan lạc vô biên mà Chúa đã hứa ban cho những ai chịu bách hại vì Người.Từ đó, mặc dầu vua quan cấm cách, một phong trào tòng giáo bùng nở và mỗi ngày một lan rộng trong khắp đế quốc Rôma. Thật đúng như lời Tertulianô tiên sinh đã nói: “Máu các đấng tử đạo là hạt giống sinh ra tín hữu” vậy.Nguyện xin các thánh giúp chúng con can đảm đón nhận hy sinh và vui lòng chịu đau khổ vì lòng mến Chúa, vì có cùng chịu đau khổ với Chúa Giêsu, chúng con mới đáng được vinh hiển cùng Người: Sitamen compatimur ut et conglorificemur. (Rm.8,17). |