Hạnh Các Thánh


Ngày 09 tháng 5

THÁNH ÔĐILÔNÊ VIỆN PHỤ

DÒNG BIỂN ĐỨC THÀNH CLUNI

(962-1049)

Thánh Ôđilônê sinh năm 962, tại một làng nhỏ cuối miền Auvenia nước Pháp. Ngài là con một gia đình quí tộc. Cha là Bêralđô I, một lãnh chúa thế lực; còn mẹ ngài là bà Đêbe thuộc hoàng tộc Ý. Bà là một người mẹ gương mẫu, chăm lo giáo dục con cái trọn cả hai phần trí và đức. Bà sinh hạ được mười mặt con: tám trai, hai gái; Ôđilônê là con trai thứ ba.

Ra đời vừa được mấy thang, Ôđilônê đã bị chứng bệnh tê liệt làm chân tay rụng rời không sao cử động được. Cơn bệnh của Ôđilônê đã gieo vào lòng mọi người trong gia đình một nỗi thất vọng. Trừ một mình Ôđilônê ra, không còn ai dám nghĩ rằng cơn bệnh đó một ngày kia sẽ qua khỏi. Nhưng đối với Chúa, không có gì là bất khả. Quả vậy, một hôm cả gia đình Ôđilônê đi chơi xa có cả trẻ Ôđilônê cùng đi trên một chiếc cáng nhỏ. Đến nơi, họ để Ôđilônê nằm chơi một mình trước cửa nhà thờ kính Đức Mẹ; rồi cả gia đình đi du ngoạn ngoài đồng  nội. Như có ơn thúc đẩy bên trong, Ôđilônê lách cửa lê vào nhà thờ và mạnh dạn bò hẳn lên gian cung thánh trước toà Đức Mẹ. Nhìn lên ảnh Đức Mẹ, Ôđilônê như bị một sức mạnh siêu nhiên lôi cuốn, cậu cố túm khăn bàn thờ nghển cổ trông lên. Lạ thay, như người quả phụ chạm vào áo Chúa và được khỏi bệnh khi xưa, Ôđilônê bây giờ thấy mình cứng cát, đứng thẳng người lên được như không có tật bệnh gì cả.

Trở lại tìm con, cả gia đình sửng sốt thấy Ôđilônê nhảy mừng tíu tít trước bàn thờ Đức Mẹ như muốn dốc cho Người tất cả lòng biết ơn và niềm hoan lạc.

Và từ đấy, Ôđilônê lớn lên trong đàng nhân đức, nhất là lòng yêu mến Đức Mẹ. Ngay từ bé, Ôđilônê đã hiến thân làm tôi Chúa và giữ mình đồng trinh noi gương Đức Mẹ. Ơn Chúa phù trợ và nền giáo dục của gia đình đã hun đúc Ôđilônê nên một thanh niên đơn sơ, trong sạch, cần mẫn và bác ái. Cậu quả là bông hoa Chúa trồng để tung hương cho mọi người, nhất là trong thời kỳ chàng theo học tại trường thánh Juliênô ở Briuđê. Nhờ trí khôn sắc sảo, lại cần mẫn, nên Ôđilônê mau tấn tới và thu hoạch được nhiều kết quả trong các kỳ thi. Năm lên 26 tuổi, ngài nhất định bỏ thế gian hầu thực hiện dễ dàng lời đã hứa với Chúa và Đức Mẹ. Mấy năm sau, ngài được chịu phép cắt tóc và khấn nhập dòng thánh Juliênô tại Briuđê. Đầu tiên ngài được bổ nhiệm làm việc tại nhà thờ chính toà thành Puy, cho tới khi chịu chức linh mục mới về coi xứ thánh Êvađô.

Năm 991, nhân dịp gặp cha thánh Mayôlô đi qua, ngài tỏ ý muốn xin nhập dòng Biển Đức. Với lòng ao ước sống đời khổ tu từ lâu, cha Ôđilônê cho là ý Chúa muốn gọi mình bèn xin phép Đức Giám mục và nhập dòng năm ấy.

Sống trong dòng, ngài tỏ ra rất trung thành với qui luật của thánh Biển Đức và đã nên gương sáng cho mọi người noi theo. Vì thế khi thánh Mayôlô biết đời mình sắp hết thì đã nhất định chọn cha Ôđilônê làm người kế vị.

Dù ngài khiêm nhường đến đâu cũng không thể từ chối được chức vụ viện phụ. Với chức cao cả ấy, ngài càng ý thức thêm vai trò thánh thiện. Ngài hướng dẫn các thầy bằng gương bác ái, bằng lời cầu nguyện và đời sống hy sinh. Tuy các dòng Biển đức đều sống theo qui luật của thánh nhân, nhưng trong cách thực hành nhiều nhà dòng đã tự ý thay đổi có khi đi trái cả với tinh thần của Nhà Mẹ. Vì thế khi lên làm bề trên, thánh Ôđilônê đã ôm một hoài bão thống nhất tinh thần dòng Biển đức. Đó là công việc rất khó khăn và đòi nhiều thiện chí. Vậy, để thực hiện ý định, ngài bắt các thầy trong nhà trung thành giữ luật thánh Biển đức. Luật này được mệnh danh là luật dòng thành Cluni. Luật này sau ngày ban bố đã có một tiếng vang lớn nơi các nhà dòng. Đồng thời, nhờ ảnh hưởng của mình, thánh nhân đi thăm và cổ võ các dòng Biển đức tại Pháp, Thụy Sĩ, Ý và Đức. Trong dịp này ngài cũng thiết lập nhiều nhà dòng mới.

Đời sống của thánh nhân rất đơn sơ. Trong đời ngài, lòng bác ái được nổi bật hơn hết dưới mọi hình thức. Ngài thương và làm phúc cho hết mọi người kể cả những người phản bội và nguyền rủa ngài. Tín nhiệm vào lòng từ bi của Chúa, thánh nhân cư xử với kẻ dưới như người cha. Nếu có ai sai lỗi điều gì, thánh nhân không quở mắng, nhưng cầu nguyện và dịu dàng chỉ bảo cho họ. Ngài rất nhân hậu với những kẻ giúp việc trong nhà. Lòng bác ái sâu xa ấy được dịp thể hiện rõ ràng trong thời kỳ ngài ở Pháp năm 1016. Ngài đem hết của cải nhà dòng cứu trợ nạn nhân, vận động với các quận công, lãnh chúa xuất tiền của cứu trợ người nghèo túng. Quả nhờ lòng bác ái và lời cầu nguyện của ngài mà nhiều gia đình được no ấm, nhiều bệnh nhân được lành đã, và một số đông nô lệ được phóng thích. Thêm vào đức bác ái là đời sống khổ hạnh: ngài luôn ăn chay đánh tội, ngủ rất ít và luôn mặc áo nhặm. Nhưng không vì thế mà đời sống của ngài thiếu vẻ đơn sơ, vui vẻ và tâm tình hồn nhiên.

Một điểm khác trong đời sống của thánh nhân là lòng ái mộ các linh hồn luyện tội. Chính ngài là người đầu tiên xin lập lễ cầu cho các linh hồn tiếp sau ngày lễ mừng Chư thánh. Thực ra thói quen cầu cho các linh hồn luyện tội đã có trong giáo hội ngay từ thời các Tông đồ. Nhưng trong năm phụng vụ chưa có một ngày nào dành riêng cho các linh hồn. Vậy năm 998, ngài truyền cho các dòng dưới quyền của ngài hằng năm dâng lễ cầu cho các linh hồn ngày tiếp sau lễ Chư thánh. Dần dần thói quen mới này phổ cập trong nhiều địa phận gây nên một tiếng vang khiến các Đức Giáo Hoàng để ý và ban sắc dụ cho toàn thế giới thi hành.

Nổi tiếng là đạo đức, thánh Ôđilônê còn là một nhân vật danh tiếng thời bấy giờ. Vì biết ngài khôn ngoan và được ơn nói tiên tri, nên các Đức Giáo Hoàng và nhiều vị Hoàng đế hay mời ngài tới cung điện để bàn định những công việc quan trọng. Còn ngài tuy bản tính khiêm tốn, yêu sống ẩn dật, nhưng vì vâng lời và bác ái, thánh nhân không ngại dấn mình vào những sự kiện có liên hệ đến vận mệnh giáo hội và nhân loại. Nhờ sự can thiệp của thánh nhân mà năm 1024 vua Henricô II đã khoan hồng cho thành Pavia khỏi bị tiêu diệt vì tội phiến loạn. Cuối đời, chính ngài còn đứng ra hoà giải mối thù truyền kiếp giữa Henricô IV tiểu vương xứ Navarê và anh ông là Ferdinanđô I tiểu vương xứ Castilla. Trong việc canh tân và thống nhất dòng Biển đức, thánh nhân là một người hoạt động và có công nhất. Đời sống của ngài ảnh hưởng trực tiếp đến thầy dòng danh tiếng Hinđerandô, người mà sau này là Đức Thánh Giáo Hoàng Grêgôriô VII.

Về những việc lạ thánh nhân đã làm chúng ta không thể đan cử cho hết. Thiết tưởng chỉ một lời thánh Phêrô Đamianô cũng đủ làm thoả mãn tính hiếu kỳ của chúng ta: “Đời sống của cha dòng đáng kính Ôđilônê ví như chiếc mâm vàng Chúa dùng để chồng chất nhiều phép lạ và báu vật kim cương”.

Ngoài ảnh hưởng đời sống nhân đức và hoạt động, thánh Ôđilônê còn để lại cho chúng ta nhiều áng văn hay có giá trị tín lý và tu đức, như bản chép tiểu sử thánh nữ Ađêliên, nội tướng của Hoàng đế Othon, tiểu sử thánh Mayôlô và 66 bài giảng và nhiều bài ca vãn về lễ các linh hồn.

Ngài nhiệt thành làm việc cho tới 80 tuổi thì kiệt sức và chịu bệnh đau đớn trong vòng năm năm. Dầu tuổi già, bệnh nặng, thánh nhân vẫn chu toàn công việc phải làm trong tu viện. Lễ Chúa Giáng Sinh năm 1048, tức trước khi chết một tuần, ngài còn cố gắng giảng cho các thầy. Cho tới tháng 01-1049, ngài được Chúa cất về giữa lời cầu nguyện của đoàn con yêu dấu. Ngài thọ 87 tuổi và làm bề trên dòng Biển đức được 55 năm. Xác ngài được mai táng tại nhà dòng Biển đức thành Suvinhi nước Pháp.

Từ đây Chúa làm nhiều phép lạ trên mộ ngài. Năm 1063, Đức Hồng Y Đại diện toà thánh ở Pháp đến Suvinhi chủ tọa lễ cải táng xác ngài. Khi đào lên, người ta thấy xác ngài vẫn còn nguyên vẹn và xông mùi thơm tho. Mấy năm sau ngài được giáo hội tôn phong lên bậc hiển thánh để nêu cao cho muôn người gương hy sinh bác ái và lòng nhiệt thành hăng hái của một vị tông đồ.