Trang Hồi ký

 

 

BIẾN CỐ NĂM 1954

Týti simsi

“Con thuyền Đồng Công” bắt đầu lướt sóng dưới tay lái của Thuyền Trưởng Quorum Primus Trần Đình Thủ, người sáng lập Dòng Đồng Công khởi đầu từ năm 1941 và đến ngày 15.12.1952 được Toà Thánh ban phép lập thành một dòng tu thuộc giáo phận và ngày 2.2.1953 lễ thành lập Dòng Đức Mẹ Đồng Công được khai mở với con số tập sinh là 36 và khấn lần đầu ngày 25 tháng 3 năm 1954 với số người là 30.

 

Khi lớp tập đầu tiên của Dòng Đồng Công vừa thay lông mọc cánh, đã đổi mầu áo, màu trắng biến thành mầu đen và sau đó thì lớp thử đàn em được nêu danh trên bảng, tất cả đều vui ... tràn đầy hy vọng !!! Thế nhưng không ai ngờ : con thuyền Đồng Công bắt đầu bị cơn “sóng thần” vùng lên muốn nhận chìm xuống đáy biển ... Nhưng người thuyền trưởng anh dũng vẫn vững tay chèo, mặc cho sóng vỗ thét gào cứ dâng cao và dâng cao mãi :

Đó là khi toàn thể anh em Dòng Đức Mẹ Đồng Công Cứu Chuộc đang sống trong nguồn hy vọng tiến lên trên đường thánh thiện, tiến lên “đại thánh” như mục đích của Đấng Sáng Lập, vươn lên và đua nở muôn hoa cùng với các dòng đàn anh ... thì bỗng đất nước Việt Nam rất thân yêu của chúng ta bắt đầu biến chuyển bởi chính quyền thực dân Pháp bị Việt Minh tấn công, điện Biên Phủ thất thủ và do đó thực dân Pháp mới ký hội nghị “Dơ-ne-vơ” chia đôi nước Việt Nam của chúng ta thành hai : miền Nam thuộc quốc gia (tức thuộc Pháp) và miền Bắc thuộc Việt cộng (vc). Mọi người được tự do chọn ở miền Bắc hay miền Nam  ...

Cái nguyên cớ làm cho con thuyền Đồng Công bị chao đảo là : khi quân đội và chính quyền cũng như toàn bộ toà giám mục tỉnh Bùi Chu từ Đức Cha cho đến người canh cổng bỏ chạy trốn trong đêm với bàn tay trắng, bỏ lại toàn dân trong tay đối phương mà Dòng Đồng Công là ... không có phương trốn thoát ! Anh Cả đã tìm mọi cách để bảo tồn dòng, nhưng đối với loài người thì hầu như bó tay và Anh Cả đã đau lòng phải giải tán anh em tạm về quê chờ đợi lệnh ... Vừa khi nghe Anh Cả ra lệnh giải tán thì anh em hết thảy đều ngao ngán thất vọng và thất vọng, nước mắt tuôn tràn trên gò má mọi anh em ! Con thuyền Đồng Công hòng chìm nghỉm dưới lớp “sóng thần” ! Vâng lời Anh Cả, anh em hoá trang để che mắt “cú vọ” bằng cách nhuộm quần áo bằng thuốc tím, thuốc đỏ, xanh vàng vân vân đủ kiểu loè lẹt coi rất nực cười. Khi anh em đã chia nhau đi với nét mặt buồn thiu hầu như thất vọng, còn một số anh em chưa kịp lánh nạn thì “nhà nước” đã mời đi “mít tinh” không ngày về ... Trong nhóm được mời đi “mít tinh” có 28 người gồm 3 người ngoài, nhốt trong một gian nhà bé nhỏ, kẻ nằm trên bàn người nằm dưới đất, gầm bàn ... không chiếu không gì hết và “người ta” khoá cửa kín mít như trong một xà lim thật sự ! Sáng sớm hôm sau, hội con Đức Mẹ họ Hạ Linh đã chia nhau tìm kiếm và họ đã tìm được và đến thăm các thầy, báo cáo cho các thầy biết tin tức nhà dòng, Cha Thủ và các thầy còn lại đồng thời thu tin cho Cha Bề Trên biết về các thầy và hiện lúc này ở đâu !!! Ngay tối hôm đó, “con cháu bác” trói các thầy và chuyển đi nơi khác sợ lộ bí mật ... Trong khi đó, Anh Cả bị giam lỏng tại nhà Dòng, có một tiểu đội “bộ đội” canh cẩn mật toàn khu nhà Dòng, ngăn cấm “ngoại bất nhập và nội bất xuất”, Nhưng không hiểu tại sao một anh bộ đội thình lình chết trong đêm ! Đồng bọn bí mật đưa xác chết ra khỏi nội vi tu viện, đồng thời cả bọn rút lui một cách êm thắm, ném lại chiếc “nón cối” xuống mé bờ ruộng rau muống . họ muốn sự việc bất ngờ khó hiều này, nhưng không thể giữ bí mật được vì dân chúng ở sát biên nhà dòng đã chứng kiến ! Toán bộ đội này chuyển sang Trà Bắc, nơi đang giam giữ anh em bị bắt ... Ở nhà lúc này, không còn vương bóng một anh bộ đội nào, chỉ còn một mình Anh Cả với số ít anh em sống chết cùng với Anh Cả cả bên Liên Thuỷ và bên Trung Lễ. Vì Anh Cả thương mến các em nên Anh đã rất đau khổ vì mất các em ... Anh Cả không khóc nhưng rất đau khổ. Ngày đêm cứ nghĩ đến lời Chúa nói về tai nạn Giêrusalem : “Khốn khổ cho những người mang thai và nuôi con trẻ trong những ngày ấy” (Mt 24,19). Anh tự nhận mình là người mang thai và nuôi con mọn ấy. Anh Chí bấy giờ đang ở nhà quê, giục bố là ông trùm Chưng đi dò xét xem người giam anh em ở đâu ... , Ông này có mưu trí cao giả vờ đến Trà Bắc thăm người bạn ... và ông đã tìm được. Nhưng “người ta” đã nghi ông và bắt giam ông đem nhốt ông chung với các thầy Đồng Công ... như thế là trúng mưu kế của ông rồi ... ông giả vờ như không biết các thầy là ai ! ông giả vờ như người mát ... chửi bới nhà nước ... chửi bới cả bác Hồ ... Sau một đêm, có hai bộ đội trang phục bằng hai khẩu súng trường, dẫn ông đi vệ sinh, ông có đôi dép da trâu không đi mà đeo vào cạp quần bên hông trong quần, đôi dép phình ra như quả lựu đạn, một tên bộ đội hình như cấp hạ sĩ, đã chạy đến bên ông để ... vừa khi thấy đôi dép, ông bộ đội này phì cười và không nói gì ... nhưng ông  Chưng được nước liền lên tiếng lớn : “kể ra mình cũng oai thật : đi “ ỉ ” mà cũng có lính bảo vệ”. Khi thấy đám bộ đội xem ông như kẻ điên không thèm để ý đến ông nữa và lúc này ông thi hành mưu kế của ông là “ông tự cởi trói, xuống nằm chung với các thầy và cho các thầy biết tin tức về Cha Bề Trên, ông nói là Cha thương các thầy lắm” ... Thế rồi ông này lại bày kế khác, đang đêm ông gạy cửa, tức thì một tràng “aka” bắn xối xả, ông thoát nạn liền nằm xoài xuống nên nhà, đồng thời cởi hết quần áo ... Sáng hôm sau người ta đã chuyển ông đi nơi khác ...

Những anh em bị bắt được lần lượt đi khảo cung ... Anh em vẫn thản nhiên vui cười và phó thác trong tay Đức Mẹ, thấy thế con cháu bác cấm anh em không được nói chuyện với nhau và chia anh em thành hai nhóm, không được sang nhau mặc dầu “ranh giới chỉ rộng bằng một bước”, không được cười nói gì với nhau. Những anh em nào đã được hỏi cung thì người ta đã đưa đi giam một nơi riêng biệt, không ai biết ... cứ đến bữa thì người ta dẫn về chỗ anh em chưa được khảo cung để tiếp tế ... Anh em thì vâng lời tăm tắp có thời giờ để cầu nguyện để lần hạt... Ban đầu người ta chẳng cho ăn uống gì, anh quản lý Lê-an-Lạc trong túi chỉ vọn vẹn mấy chục bạc mua ăn được một ngày, hôm sau tất cả anh em đều nhịn đói. Thấy thế, bộ đội hỏi lý do, trả lời là không còn tiền ... trưa hôm đó người ta đã cho ăn và báo cáo với cấp trên, và cấp trên đã cấp phát cho tù nhân 3 thùng thóc mỗi ngày. Em Hà, anh Hải và anh Giản đi xay thóc giã gạo, cám nhờ người ta bán lấy tiền mua mắm muối. Đang khi xay thóc giã gạo, chủ nhà thương hại các thầy liền tới bàn thờ lấy chuối mời ăn, nhưng khốn nỗi mặc dù bụng đói meo, nhưng vì kỳ đó toà Thánh cấm ăn đồ cúng, nên cám ơn ông chủ ... Anh em tù thì ăn ngày đôi bữa, ăn với cơm và với cơm ! các bà chung quanh nhà giam thương hại các thầy đã lén lút cung cấp mắm muối cho các thầy. Ở nhà thì Anh Cả cứ nài van Me tha thiết cho các em, gìn giữ các em thoát cảnh tù đày. Thương tình Đức Mẹ đã yên ủi Anh Cả bằng cách là hứa sẽ trả cho Anh Cả hết !!! (Điều hứa này đã ứng nghiệm là Mẹ đã trả về cho Anh Cả hết mọi anh em tu lúc đấy, chẳng những anh em mà còn cả những đồ vật của anh em, của chung nhà và còn đã chuyển vào Nam hết không thiếu một vật nhỏ mọn nào cả, những áo quần và đồ vật dùng hoá trang cho những tối văn nghệ ...)

Như lời Đức Mẹ đã hứa với Anh Cả Mẹ sẽ trả lại cho con tất cả ... thì nay tối hôm 30 tháng 7 năm 1954, người ta đã trả tự do lại cho các thầy và Anh Cả đã cho mở tiệc linh đình như chưa từng bao giờ có như vậy ...

Sau khi đọc được một tờ nhật báo nói về hội nghi Genève, Anh Cả đã cho loan báo cho từng anh em tại nhà quê với bất cứ giá nào phải tìm cách ra Hải Phòng hoặc Hà Nội. Trong khi đó tại Liên Thuỷ Anh Cả trao quyền chánh xứ cho Anh Lễ. Đêm 3 sang 4 tháng 8 lễ bổn mạng của Anh là thánh Đaminh (bấy giờ lễ kính vào 4/8) 3 giờ sáng em Hà dọn lễ cho Anh Cả. Xong lễ, Anh Cả hoá trang mặc quần ta đen mình mặc chiếc áo nâu, đầu đội chiếc nón chóp, mượn giấy thông hành nghề nghiệp thợ may. của quan bác Đoàn anh ruột của Anh Cả. Nhờ có giấy thợ may này mà khi đi đường, “người ta” đã để Anh đi an toàn. Đi cùng với Anh Cả có các anh : anh Giáo, anh Giản và anh Võ, lên đường giữa đêm tối để lánh mặt giáo dân, nhưng giấu đầu hở đuôi. Trên đường tìm tự do, lúc Anh Cả ngồi nghỉ chân ở vệ đê, thì mấy bà – gọi là bà chứ còn trẻ măng, chừng 30 tuổi là cùng – từ phía sau đi lên, họ đứng lại như muốn hỏi thăm lối ra đò (còn cách xa đến hơn cây số nữa mới đến đò). Anh Cả thấy họ lớ ngớ, bèn hỏi : - các bà đi đâu đấy ?

Mấy bà nhìn nhau mà bảo nhau : “Cha Bề Trên ở Liên Thuỷ”. Nghe vậy Anh Cả không nói gì nữa. Anh Giáo bèn lên tiếng mời các bà đi trước, rồi theo sát mà lưu ý họ : chớ nói gì nữa. Lúc xuống đò, bến đò Sa Cao sang Thái Bình, các bà im lặng đứng ngó ra sông cả.

Trên đường đi gặp rất nhiều thanh niên đi ngược chiều, hỏi thì họ nói là họ là thành phần quân quốc gia vì thua trận về quê. Nhưng cứ bề ngoài thì họ là cán bộ giả dạng để động viên những người ra Hải Phòng để vào Nam thôi. Tới Phụ-Dực thấy có một cô đi ngược chiều bên kia đường. Khi đã cách xa nhau rồi, anh Giáo mới nói : “Có lẽ cô ta là người Sa-Chu hay Thức-Hoá gì đó, trước vẫn vào mua hàng ở hiệu Đồng-Tâm anh Giáo đứng bán hàng. Khi đã tới Hải Phòng, mới biết chuyện Đức Cha gửi thư và đặt Anh Cả làm nhiếp chính địa phận. Vì phải cuốc bộ nên mãi tối khuya mới tới Ninh Giang, đò ngang không còn nữa, Anh Cả phải nằm tại bến đò chờ sáng hôm sau qua sông và trực chỉ Hải Phòng, tạm nghỉ tại xứ Nam Pháp, hôm sau Anh Cả vào chào Đức Cha Chi đang tá túc tại toà Giám mục Hải Phòng. Thấy Anh Cả, Đức Cha ngạc nhiên hỏi : Tôi gửi thư cho Cha Bề rồi mà ! Sao nay Cha Bề Trên lại ra đây ? – Anh Cả trả lời là con chưa nhận được thư của Đức Cha. Sau đó Anh Cả trở lại Nam Pháp đón chờ anh em, và chỉ mấy hôm sau anh em hầu như đã đông đủ lên con tầu Ville de Haiphong và từ lúc này “con thuyền Đồng Công” lại lướt sóng ra khơi tiến về Miền Nam. Sau 3 ngày vượt sóng, lúc 3 giờ chiều ngày 13 tháng 8 năm 1954 đã cập bến bình an. Và thánh lễ tạ ơn được cử hành vào ngày 15 tháng 8 năm 1954 tại trường tiểu học Võ-Tánh Gia-Định. Nhưng chưa hết đâu, cứ đợi đấy ! Sóng thần vẫn còn dương oai rình rập, “cứ đợi đấy !”

Vài ngày sau lễ tạ ơn, con thuyền Đồng Công lại bắt đầu lướt sóng tìm đất hứa ... Con đường từ trường Võ Tánh Gia-định tới trường tiểu học Biên-Hoà dài chừng 30 cây số. Đậu tại đây chỉ đươc một tuần, thuyền bắt đầu quay mũi hướng Mỹ-Tho. Đậu tại Mỹ Tho chỉ hơn một ngày rồi bố con lại ra sức chèo, con thuyền vèo vèo trên sông thẳng một mạch tới tỉnh Sađec (bắc Mỹ thuận). Thuyền cắm neo tại đây khoảng chừng hơn kém một tháng. Vì ở giữa ngã ba sông tầu bè đi lại rất là nhộn nhịp và ngay bên chợ ồn ào không hợp với đời sống tu, nên bố con lại nhổ neo theo hướng khác.

Được Đức Cha Nam Vang cho khu đất chủng viện cũ mà quân sâm lăng Nhật đã bắn phá tan tành chỉ còn bốn bức tường trơ trọi. Anh em nhà thử (tiền tập) kéo nhau xuống ra sức làm việc tối đa để có chỗ cho anh em ở và mở lớp tập II vào ngày 15 tháng 12 năm 1954 ngày kỷ niệm Toà Thánh thẩm tra Hiến Pháp. Công việc tuy nặng nhọc đổ nhiều mồ hôi cuối cùng tạm có chỗ ở cho anh em và còn gắng sức xây lớp học mở trường đón tiếp các em học sinh sống tại cù lao và nhà trường Đồng Công được thành lập từ năm này (1955), dưới sự hướng dẫn của Anh Đoàn Phú Xuân là hiệu trưởng đầu tiên của trường, các giáo đứng lớp hầu hết là anh em tập sinh. Mọi sinh hoạt học đường đang trôi chảy tràn đầy hy vọng thì bè lũ Satan bắt đầu quấy phá bằng cách xúi cho con cháu bác gài tay sai vào nhà trường quấy phá và đã có sự cố xẩy ra gây chết người phe bác. Vì thế Dòng phải cấp bách giải tán trường và bố con bó gói lên thuyền chạy trốn trong một đêm nước dâng cao ... Chỉ có nhà tập trực chỉ Sài Gòn với Anh Cả thôi. Còn rất đông anh em tạm trú tại Sa Đéc. Anh Cả phải tạm thời cho anh Lễ từ Gia-Định xuống Sa Đéc làm lễ cho anh em hằng ngày. Rồi theo lệnh, anh em bỏ Sài-Gòn dần dần. Chuyến sau cùng là ngày 8.12.1955, mãi tối mới đến nơi. Con thuyền Đồng Công phóng rất nhanh về Sài Gòn và dừng lại tại Thủ Đức trên một ngọn đồi trọc. Ngọn đồi này là một vườn cao xu của người Pháp đã bỏ hoang từ lâu và nay họ bán lại cho nhà Dòng. Thế là bắt đầu từ con số không. Không cửa không nhà ... cây cối vắng bóng chỉ có ánh nắng thui suốt ngày từ sáng tới chiều, mồ hôi nhễ nhãi đua nhau nhỏ giọt ... Nhưng với sự hăng say phục vụ của anh em bằng đôi tay gân guốc và rám nắng những ngôi nhà lợp tôn liên tiếp được dựng lên. Trường Đồng Công được xây cất để đón tiếp các học sinh. Ngôi nhà Đồng Công tạm thời yên ổn trong một thời gian vắn mặc dầu những khó khăn ban đầu vẫn không thiếu, nhưng có bàn tay Mẹ Đồng Công nâng đỡ vỗ về Dòng Đức Mẹ Đồng Công vẫn còn mãi và vững bước tiến lên tới hôm nay .../

...

(Con thuyền Đồng Công còn phải vượt qua những biến cố 63, biến cố 68, biến cố 75, biến cố 87 và biến cố 2006 ...)