LƯỢC SỬ CHI DÒNG ĐỒNG CÔNG HOA KỲ

Giai Đoạn I:

 Từ Năm 1975 đến Năm 1986

I. LƯỢC SỬ CHI DÒNG

Lịch sử Dòng Đồng Công gắn liền với lịch sử quốc gia Việt nam. Một trong những biến cố quan trọng nhất của đất nước là việc hai miền Nam Bắc được đặt dưới chế độ xã hội chủ nghĩa từ ngày 30 tháng 4 năm 1975. Ngày đó, Dòng Đồng Công đã phải chấp nhận những phân ly đau đớn. Khoảng trên 170 phần tử của Dòng đã rời xa quê hương, di cư tới đất khách quê người. Nhóm anh em này đã làm nên lịch sử Chi Dòng Đồng Công Hoa Kỳ.

A. Cuộc Di cư Vô Định

Hiến pháp và tục lệ Dòng đã đề cập đến việc thiết lập Chi Dòng Đồng Công tại ngoại quốc, nhưng chưa bao giờ có cơ hội thực hiện. Đầu tháng 4 năm 1975 vì tình trạng khẩn trương của miền Nam Việt Nam, Anh Cả phải cho một số đông anh em từ Thủ Đức di chuyển xuống Phước Tỉnh, một làng tại bờ biển Phước Tuy, để có thể làm một cuộc vượt trùng dương tuy vô định nhưng với lòng cậy tin mạnh mẽ nơi Chúa Quan Phòng. Đồng thời Hội đồng Tổng quản Dòng quyết định thành lập Chi Dòng Đồng Công tại hải ngoại để dễ dàng "bảo tồn Dòng và phát triển việc truyền giáo". Thế là một Ban lãnh đạo cuộc di cư được thành hình khẩn cấp. Ban này có trách nhiệm săn sóc hướng dẫn anh em. Thời gian anh em ở tại Phước Tỉnh khá lâu nên tiền nong gần như cạn kiệt, Anh Cả đã cho một anh em về Sài Gòn lo tiền nong để thuê thuyền cho anh em có phương tiện để ra khơi. Thật là việc Chúa và Mẹ an bài, chỉ trong 36 giờ, qua bốn vị ân nhân là phụ huynh của các cựu học sinh Đồng Công, trong đó có hai chị em ruột trợ giúp 6 triệu, tất cả số tiền trợ giúp được hơn 12 triệu, số tiền vừa đủ thuê được tám thuyền đánh cá cỡ bự sáu lốc. Thế là Ban lãnh đạo quyết định ngày giờ nào thuận tiện.

Sáng 26 tháng 4 năm 1975, tỉnh lị Phước Tuy bị đe dọa nặng nề. Tối hôm đó anh em Đồng Công xuống bảy chiếc thuyền đánh cá đậu tại bến Phước Tỉnh (chiếc thứ tám đã thuê cho các em tập sinh, nhưng các em đã không xuống Phước Tỉnh kịp). Lúc đó, bến Phước Tỉnh đã có hằng trăm thuyền khác của dân chúng sẵn sàng tìm đường vượt biên. Tối 26, anh em ngủ dưới thuyền tại bến Phước Tỉnh trong tâm trạng nghe ngóng tình hình. Chờ đợi đến sáng 27 mà tình hình chưa ngã ngũ. Hôm ấy là ngày Chúa Nhật, nên Ban lãnh đạo quyết định để một số ít anh em ở lại bên giữ thuyền, còn phần lớn trở lại nhà trọ dâng lễ. Đúng lúc thánh lễ kết thúc, và nồi cơm của ban Nội Thiện cũng vừa chín tới, thì được lệnh khẩn cấp phải ra thuyền, vì tình hình nguy ngập đang diễn ra tại Phước Tuy. Thế là tất cả anh em hối hả chạy ra thuyền mang theo nồi cơm làm bữa trưa. Tối 27, thuyền chở anh em tiến về Vũng Tàu, đậu tại Bãi Dâu. Sáng 28 các thuyền gặp nhau lần chót, nhắc nhủ những điều cần, dồn người lại sáu thuyền (một chiếc đánh tháo không chịu đi nữa). Hồi hộp và kinh hoàng nhất là ngày 29. Tình hình rối beng như mối tơ vò: pháo kích khắp nơi, Vũng Tàu bị tấn công, lính tráng cầm súng đi cướp thuyền... Khoảng 3 giờ chiều, nhờ vài chuyên viên liên lạc bắt được làn sóng đặc biệt làm vững niềm tin: có tàu Mỹ đang chờ ngoài hải phận quốc tế. Ban lãnh đạo quyết định nhổ neo ra khơi. Thấy anh em đi, tức khắc các thuyền của dân chúng cũng nổ máy ùa theo. Cả một đoàn thuyền như những chiếc lá tre trôi nổi lướt sóng ra khơi, và xa cách quê hương Việt Nam từ đó...

Giữa biển cả mênh mông, những con thuyền đánh cá trở nên quá mong manh bé nhỏ, luôn chao lên hụp xuống hãi hùng. Đang lúc đó, có mấy chiếc trực thăng lác đác từ đất liền bay cùng hướng ra khơi. Đoán được có tàu lớn ngoài hải phận quốc tế, các thuyền cùng loại gắng nhoài theo hy vọng. Đúng vậy, sau nhiều giờ vật lộn với sóng nước chập chờn, đoàn người đã gặp được những chiếc tàu chở hàng khổng lồ của Hoa Kỳễ Khi biết mình được cứu nguy, mọi người nhốn nháo quên cả mệt nhọc, hết cả say sóng, chen chúc nhau lên tàu. Ai cũng sợ số người được cứu vớt có hạn, nên cảnh tượng xô đẩy rất hỗn loạn xảy ra, khiến nhiều người rớt xuống thuyền, xuống biển thiệt mạng, nhiều gia đình bị xé lẻ. Anh em Đồng Công cũng bị phân tán lên nhiều tàu khác nhau. Có anh em chưa lên được ngay, bị trôi dạt cả tháng. Có anh không còn tàu vớt, thất vọng quay trở lại đất liền. Trên tàu, tâm trạng mọi người đang hoang mang thì qua đài phát thanh Sài Gòn, ông Dương Văn Minh nghẹn ngào tuyên bố trao trọn miền Nam cho quyền lực mới. Hôm đó là ngày 30 tháng 4 năm 1975.

B. Những NgàyThángTạm cư

Một tuần lễ trên biển cả, anh em Đồng Công cùng với từng bốn, năm ngàn đồng bào trên mỗi chiếc tàu nhân đạo, đã lần lượt được đưa đến các trại tị nạn trên đảo Guam, đảo Wake, rồi từ đó vào các trại tạm cư trong lục địa Hoa Kỳ như Pendleton, Fort Chaffee, Indiantown Gap, để lập thủ tục giấy tờ và tìm kiếm người bảo trợ. ở đâu anh em Đồng Công đều cố gắng duy trì đời sống tu trì chung với nhau, và lợi dụng hoàn cảnh như một dịp truyền giáo thực tế.

Có rất nhiều gia đình, cơ quan từ thiện hay giáo xứ Mỹ hảo tâm đứng ra bảo lãnh các gia đình tị nạn Việt Nam lúc đó. Tuy nhiên, nói đến bảo lãnh cho cả một cộng đoàn như nhóm anh em Đồng Công quả là một vấn đề! Một số anh em tới Fort Chaffee trước đã cố gắng dò hỏi và bàn thảo với mấy linh mục Việt Nam du học tại Mỹ lâu năm. Các vị đều cho mong ước sống chung gần 200 người như một tu viện khi đó là điều không thể thực hiện được. Các vị góp ý nên phân tán mỏng để được bảo trợ đi các nơi, sau này làm ăn dễ dàng rồi tụ họp lại. Nhưng với quan niệm của anh em Đồng Công, thì đó quả là một tan tác đau thương. Thế nên, anh em tiếp tục suy tính, và nhất là cầu nguyện bằng kinh Mân Côi xin Chúa, Mẹ an bài định liệu cách thế tốt đẹp cho đoàn con.

Việc phải đến đã đến. Cha Thomas McAndrew, tuyên úy phó trại tị nạn Fort Chaffee, hiểu biết hoàn cảnh và nguyện vọng của anh em Đồng Công. Ngài đã tình nguyện giúp đỡ liên lạc, đồng thời khích lệ anh em vững tâm tin vào tình yêu Chúa Quan Phòng. Chính nhờ vị ân nhân này, hội đồng cố vấn giáo phận Springfield-Cape Girardeau, Missouri, dưới quyền chủ tọa của Đức cha Bernard Law trong phiên họp ngày 28 tháng 5 năm 1975, đã quyết định bảo trợ và nhận mọi anh em Đồng Công vào giáo phận. Tin mừng đó đã phấn khích anh em vững tâm và hân hoan không ít. Chỉ sau đó một tuần, Đức cha Law (sau này làm Hồng y Tổng Giám mục Boston, Massachusetts) đích thân đến trại Fort Chaffee để thăm hỏi, dâng lễ và tiến hành thủ tục bảotrợ. Cùng đi với ngài, có cha chủ tịch Hiệp hội các Dòng Nam tại Hoa Kỳ và cha Giám tỉnh Dòng Đức Mẹ Vô Nhiễm (OMI), người đã chấp thuận cho anh em Đồng Công cư ngụ tại khu Chủng viện Our Lady of the Ozarks của Dòng tại Carthage, trong giáo phận Springfield-Cape Girardeau, tiểu bang Missouri.

Định cư

Vượt trên mọi mong ước của anh em, tình thương Chúa, Mẹ đã xếp đặt và lo liệu cho đoàn con Mẹ cách chu đáo tuyệt vờiễ Ngày 30 tháng 6 năm 1975, nhóm anh em đầu tiên 48 người từ trại Fort Chaffee được đưa về Carthage. Đức cha Law cùng với một số linh mục và ân nhân đã đến tận chủng viện vui vẻ đón tiếp và chào mừng anh em. Chủng viện này do các cha Dòng Đức Mẹ Vô Nhiễm quản trị, nhưng đã đóng cửa năm năm (vì không có chủng sinh), tuy nhiên vẫn được cha John VVeissler, OMI, bảo trì săn sóc. Ngoài tòa nhà bằng đá to lớn ra, chủng viện còn có nhà nguyện, nhà thể thao, nhà ăn, nhà các cha và mấy sân banh rộng rãi. Thế rồi, từ các trại tạm cư, anh em lần lượt được đưa về sum họp dần dần. Sau bốn tháng phiêu linh lưu lạc, anh em đã đoàn tụ đông đủ, ngoại trừ một số anh em đi theo tiếng gọi khác. Nhiệm vụ của ban tổ chức di cư chấm dứt. Quyền lãnh đạo cộng đoàn được trao cho anh Cyrillô M. Vũ Thanh Thiên, Tổng bí thư đương nhiệm, là người độc nhất trong Hội đồng Tổng quản Dòng đi được với anh em. Anh Tổng bí thư đã cùng với anh em cẩu nguyện và tổ chức một đại hội để bầu cử Hội đồng Quản trị Dòng Đồng Công Hải ngoại (danh xưng lúc đó). Hội đồng này gồm một vị giám đốc (anh Inhaxiô M. Lê An Đại), bốn vị phụ tá, thư ký và quản lý với nhiệm kỳ ba năm (1975-1978). Đức cha B. Law, sau khi tường trình với Tòa Thánh về việc bảo trợ anh em Đồng Công, được Thánh bộ Truyền Giáo ủy thác trách nhiệm bản quyền đối với anh em theo văn thư Protocol số 4546/75 ký ngày 16 tháng 9 năm 1975.

II. HŨẠT ĐỘNG CỦA CHI DÒNG

1.         Kể từ ngày định cư tại Carthage, nhờ ơn Chúa, Mẹ, anh em Đồng Công luôn cố gắng sống hội nhập với hoàn cảnh mới, để có thể "bảo tồn Dòng và phát triển việc truyền giáo" theo ý Đấng Sáng Lập. Anh em cố gắng thực thi đúng đắn hiến pháp, tục lệ và tinh thần Dòng, nhất là qua những năm được tổ chức như Năm Thơ Ấu (1978), Cậy Trông (1980), Bác Ái (1983), qua những dịp học hỏi, qua các lớp Thánh Kinh, Thánh Mấu... Đồng thời anh em cũng chú ý đến việc phát triển văn hóa nhờ một số dòng tu Hoa Kỳ gửi người đến dạy Anh ngữ cho anh em, thuyết trình về văn hóa và phong tục người Mỹ. Ngay năm sau, một số anh em đã được gửi vào các trường đại học Hoa Kỳ, hoặc các trường dạy nghề chuyên môn như nghề in, nghề chụp hình, nghề y tá.

2.         Về tiến chức, Đức cha B. Law, sau khi tra xét cẩn thận, đã truyền chức phó tế cho 12 anh em (đã hoàn tất chương trình thần học tại Việt Nam) tại nhà nguyện Dòng vao năm 1976. Sau đó, 12 anh em phó tế đi học mục vụ một năm tại Đại chủng viện Kenrich, st. Louis. Và ngày 28 tháng 5 năm 1977, Đức cha đã truyền chức linh mục cho 12 phó tế tại nhà thờ chính tòa Springtield. Những anh em có khả năng được từ từ gửi vào các trường triết và thần học của Giáo Hội Hoa Kỳ để tiến tới chức linh mục.

 Công cuộc hiến dâng vẫn tiếp nối qua các lớp khấn tạm, khấn trọn. Đệ tử viện hình thành từ tháng 8 năm 1975 với con số 16 đệ tử sinh, để đến niên khóa 1978-1979 sĩ số lên tới 50 em, nhưng sau đó chỉ giới hạn tới 30 em mỗi năm vì không đủ chỗ ở. Tuy vậy số thỉnh sinh và tập sinh của Dòng ngày một đông đảo. Số chí nguyện sinh lớn tuổi hơn vẫn xin đến tìm hiểu ơn gọi và tiếp tục được nhận vào thỉnh viện, tập viện của Dòng.

3.         Về cơ sở, ngay từ tháng 9 năm 1976, Dòng thiết lập thêm một tu viện chính thức: Tu viện Mẹ Dâng Con theo giáo luật tại Dwight, Nebraska (sau này di chuyển về Lincoln rồi đóng cửa) để giúp giáo dân Việt Nam di cư, và một tu xá mang tên Tu xá Mân Côi (nơi anh em trú ngụ để theo đại học) tại Springfield, MO. Tháng 12 năm 1976, Dòng mua một nông trại rộng 107 mẫu Anh (tương đương 433.350m2) tại Ash Grove, Missouri, để chăn nuôi gia súc và trồng tỉa. Nông trại này bị bó buộc phải đóng cửa ngày mồng 2 tháng 1 năm 1980 để duy tinh thần tu trì cho anh em. Tháng 6 năm 1978, nhu cẩu anh em theo thần học tại Chủng viện Ken tại St. Louis, Missouri do các cha Lazaristes trách, Dòng đã mua một căn nhà làm Tu xá Mẹ Dâ Mình. Sau đó, tháng 2 năm 1982, Dòng tiến về miề Nam mua một trụ sở tại Houston, để lập nhà in Mai và cổ động ơn gọi Đồng Công.

4.         Đặc biệt nhất là từ tháng 2 năm 1980, Dò mua trọn khu nhà tại Carthage, MO, do Dòng Đức Mẹ Vô Nhiễm bán lại, gồm Đền thánh Khiết Tâm Mẹ, nhà in phía tây đại lộ Grand, nhà ăn, nhà thể thao và nhà các linh mục (nhà này được dùng làm Giáo sĩ DuQng đường). Ngay từ tháng 7 năm 1977, theo gương Đấng Sáng Lập, anh em đã hân hạnh đón tiếp các đức cha, quí cha về hưu dưỡng tại nhà Dòng, đầu tiên là cha Phêrô Trần Điển, nguyên chánh xứ La Vang Huế, tiếp đến Đức cha Giacôbê Huỳnh Văn Của, cha nguyên viện trưởng Đại học Đà Lạt Lê Văn Lý, cha nguyên viện trưởng Đại học Huế Cao Văn Luận, Đức cha Phêrô M. Ngô Đình Thục, cha giáo Giuse Phạm Tuấn Trang, CM... Đến tháng 8 năm

6.         Để thực thi mục đích truyền giáo của Dòng, một số linh mục và anh em đã được cử đi phục vụ trực tiếp tại các giáo xứ, cộng đoàn giáo dân Việt cũng như Mỹ tùy theo lời yêu cầu của các vị giám mục liên hệ, nhất là sau khi Chi Dòng được thành lập theo giáo luật. Anh em linh mục cũng được mời làm tuyên úy cho các bệnh viện Hoa Kỳ tại mấy thành phố gần nhà Chi Dòng.

tạ Trái tim Đức Mẹ. Đạo Binh Hồn Nhỏ và Đạo Binh Xanh Việt Nam tại Hoa Kỳ cũng xin linh mục Dòng làm tuyên úy. Dòng mở văn phòng liên lạc Đền thánh Khiết Tâm Mẹ (năm 1979) với các tuần cửu nhật hàng tháng để dâng lễ, cầu nguyện cho mọi người gửi ý nguyện về để khấn xin; đồng thời Lá thư Đền thánh đang được phổ biến rộng rãi. Ngoài ra, Dòng cũng thành lập Hội Truyền Giáo Đồng Công cho những người muốn cộng tác với Dòng rao giảng Tin mừng.

 7.        Để truyền bá mệnh lệnh Đức Mẹ Fatima, và để bảo tồn cũng như phát huy văn hóa Việt Nam, từ cuối năm 1977, Dòng tái bản Nguyệt San Trái Tim Đức Mẹ (thành lập từ năm 1949 tại Bắc Việt, tiếp nối tại Nam Việt năm 1960) và cổ động phong trào đền

 9.        nhân loại, số người đến coi mỗi năm tăng thêm, có lẩn tới trên 100.000 người.

10.       Sau hết, về nhân sự, đệ tử viện trong mấy năm vừa qua chỉ có đủ chỗ dung nạp được 30 em (từ 14 đến 18 tuổi) mỗi năm. Nhà tập từ năm 1980 tới

11.       năm (1978-1983). Anh Inhaxiô M. Lê An Đại tái cử Giám đốc, nhưng tháng 2 năm 1979 anh xin từ chức, và Anh Cả đã cử anh Barnaba M. Nguyễn Đức Kiên thay thế. Cũng trong dịp này, Đại hội kỳ II đã họp trong ba ngày để thảo luận về cách áp dụng tinh thần Dòng cũng nhưmột ít thích nghi chung.

12.       Nhưng sau hai năm thi hành nhiệm vụ (tháng 10 năm 1980), Hội đồng Quản trị nhiệm kỳ II nhận thấy, với hoàn cảnh hiện thời của Việt Nam, sự liên lạc giữa Dòng Đồng Công hải ngoại với Nhà Mẹ, cách riêng với Đấng Sáng Lập, ngày một khó khăn, nên một phái đoàn đã được cử sang Roma để lĩnh ý Tòa Thánh về nội tình của Dòng tại hải ngoại. Thánh bộ Truyền Giáo (vì Dòng ở xứ truyền giáo nên trực thuộc thánh bộ này), sau khi bàn hỏi Đức cha Phaolô Nguyễn Văn Bình, Tổng Giám mục giáo phận Nhà Mẹ của Dòng (lúc đó đang ở Roma), và phái đoàn Đồng Công Hoa Kỳ, ngày 25 tháng 10 năm 1980, đã ký văn thư số Protocol N. 4931/80 chính thức thành lập CHI DÒNG ĐÔNG CÔNG HOA KỲ. Đồng thời Thánh bộ cử Đức Giám mục giáo phận Springfield- Cape Girardeau giữ nhiệm vụ "giám sát" Chi Dòng trong thời gian 10 nămẵ Thánh bộ cũng dành cho Đức cha quyền bổ nhiệm vị giám tỉnh và bốn vị phụ tá của Chi Dòng mỗi khóa ba năm.

13.       Ngày 30 tháng 12 năm 1980, sau khi đã thăm dò ý kiến của các tu sĩ vĩnh thệ theo sắc lệnh của Thánh bộ Truyền Giáo, Đức cha Law, đã tuyên bố vị giám tỉnh nhiệm kỳ ỉ (1981-1983) của Chi Dòng Đồng Công Hoa Kỳ (anh Barnaba M. Nguyễn Đức Kiên) và bôn vị phụ tá. Đến nhiệm kỳ II (1984-1986), cũng chính vị giám tỉnh đương nhiệm được tái cử. Từ ngày thành lập, Chi Dòng thường xuyên liên lạc với các Thánh bộ của Tòa Thánh, nhất là Thánh bộ Truyền Giáo, Đức Tin và Dòng Tu; đôi khi cũng có cơ hội được triều yết riêng Đức Thánh Cha để tấu trình về Dòng và về Đấng Sáng Lập ở Việt Nam.

14.       Như vậy, Dòng Đồng Công hải ngoại hay Chi Dòng Đồng Công Hoa Kỳ từ năm 1975 đến năm 1986, đã trải qua những ngày tháng lênh đênh vô định trên biển cả, những tan tác phân ly trong các trại tạm cư, và đã được đoàn tụ êm ấm tại vùng đất yên hàn tự do; hơn nữa còn được những cơ hội thuận tiện, những tấm lòng ưu ái khích lệ, giúp đỡ, nên đã phát triển về nhiều phương diện đáng mừng. Đó là quyền năng Chúa Quan Phòng và Đức Mẹ Đồng Công đã thực hiện qua những dụng cụ thô hèn bất tài là các phần tử Dòng, và qua những đóng góp rất quí giá cả tinh thần lẫn vật chất của các vị bảo trợ, các vị ân nhân, thân nhân và bạn hữu xa gần! Những công ơn và những tấm lòng đó chỉ Trời cao mới có thể thấu hiểu và đền đáp cân xứng.

15.       Giai Đoạn II: Từ Năm 1986 đến Năm 2003

I. ĐẠI QUAN VỀ CHI DÒNG TRONG GIAI ĐOẠN II

17.       Như đã nói trên, ngày 25.10.1980, Thánh bộ Truyền Giáo (văn thư Protocol IM. 4931/80), đã thiết lập Chi Dòng Đồng Công Hoa Kỳ và đặt dưới quyền giám sát của Đức Giám mục giáo phận Springfield- Cape Girardeau với thời hạn 10 năm. Trong thời gian này, anh Barnaba M. Nguyễn Đức Kiên, đã phục vụ ba khóa liền trong chức vụ Giám tỉnh, từ năm 1981 đến hết năm 1989.

18.       Cuối năm 1989, Tòa Thánh qua văn thư của Thánh bộ Truyền Giáo (Protocol N. 1466/89) cho phép Chi Dòng được thử nghiệm bộ hiến pháp của Dòng mới được tu chính theo Công Đồng Vaticano II và giáo luật ban hành ngày 25.1.1983. Với phép này, Đệ nhất Tu nghị Chi Dòng đã được tổ chức từ ngày 12 đen 14 tháng 1 năm 1990 (đợt I), dưới sự chủ tọa của Đức cha John Leibrecht (thay thế Đức cha Law), và (đợt II) từ ngày 21 tới 24 tháng 6 năm 1990. Trong Đệ nhất Tu nghị Chi Dòng, anh Pió M. Nguyễn Quang Đán đã đắc cử và được anh Tổng vụ chấp thuận chọn làm Giám tỉnh Chi Dòng với nhiệm kỳ năm năm (1990-1994). Tu nghị cũng bàn đến vấn đề tu huấn và ban truyền giáo của Chi Dòng.

19.       Để áp dụng quyết định của tu nghị liên quan đến vấn đề tu huấn, Huấn viện Mẹ Vô Nhiễm đã được thiết lập tại thành phố Metairie, tiểu bang Louisiana, vào năm 1991. Nơi đây được dành cho những anh em theo chương trình thần học tại Đại chủng viện Notre Dame, để việc huấn luyện linh mục của anh em Chi Dòng được thuận lợi hơn. Cũng từ năm 1991, anh em tiếp tục theo chương trình triết học của các cha Dòng Biển Đức tại Đại chủng viện Conception. Ngoài ra, từ ngày 2 tháng 2 năm 1992 đến ngày 22 tháng 5 năm 1993, Chi Dòng đã tổ chức một năm ngoại lệ hướng về Vị Sáng Lập với mục đích tỏ lòng hiếu kính đối với ngài và để anh em có cơ hội tìm hiểu tinh thần Đấng Sáng Lập và đoàn sủng Đồng Công. Năm Truyền Giáo được tổ chức vào năm 1993 để giúp anh em ý thức về trách nhiệm truyền giáo. Trong năm 1994, đáp lại lời kêu gọi của Đức Thánh Cha trong năm gia đình, Chi Dòng Đồng Công cũng tổ chức Năm Gia Đình để củng cố tình bác ái huynh đệ giữa anh em Dòng. Thêm vào đó, để các cha về hưu có được một nơi ăn chốn ở xứng hợp hơn, một tòa nhà đã được xây cất vào năm 1987, nhưng chỉ hoàn tất được một nửa công trình. Đến năm 1992, công trình xây cất được bắt đầu lại, và được hoàn tất vào cuối năm 1993. Tòa nhà này mang tên "Mater Dei".

Đệ nhị tu nghị Chi Dòng đã được tổ chức (hai đợt) từ ngäy 14 den 19 thäng 9 näm 1994, vä tif ngäy 3 töi 5 thäng Gieng näm 1995. Anh Giuse Calaxanxiö M. Trän Ngoc Diep, đã đắc cử và được anh Tong vu chap thuan chon läm Giäm tinh Chi Dong. Tu nghi cüng thäo luan möt so van de lien quan den döi song tu tri cüng nhu cöng viec muc vu cüa anh em.

Ngü nien Thö Au dUöc to chifc de giüp anh em thäng tien tinh thän be thö Dong Cöng (1995: Thö Au Khiem NhUöng; 1996: Thö Au Huynh De; 1997: Thö Äu Väng Phuc; 1998: Thö Äu Men Yeu; 1999: Thö Äu TinThäc).

Vi so nguöi tham du Ngäy Thänh Mlu möi näm möi täng, nen cän cö möt nöi rong räi hön de to ehrte cäc buoi hoi thäo, vä möt so chUöng trinh trong näm, nhuchuöng trinh tinh täm cho giöi tre väo müa Chay, Chi Dong dä quyet djnh xäy cat möt trung täm muc vu de däp irng nhu cäu näy. Cöng trinh dUöc bat däu väo müa he näm 1997, vä Hoi truöng vä Trung täm muc vu Cäc Thänh Tif Dao Viet Nam dä duoc khänh thänh väo djp Ngäy Thänh Mäu näm 1999. COng tai däy, trong hai näm vifa qua (2000-2002), nhieu nhöm giäo dän Viet cöng nhu My dä to" chifc cäc cuöc tinh täm.

De tarn Tu nghi Chi Dong dä dUöc diin^ ra tii ngäy 15 den 17 thäng 9 näm 1999. Vi anh Tong vu dä quyet dinh lUu nhiem anh Giäm tinh vä Hoi döng Phuc vu them hai näm nDa, nen tu nghi län näy khöng cö chUöng trinh bau cif. Nhung tu nghi cüng bän töi van de tu huan vä viec muc vu cüa cäc linh muc giüp xii.

Väo ngäy 12 thäng 6 näm 2001, möt tu nghi dac biet dä dUöc to chifc de chon cäc phu tä trong Hoi dong Phuc vu cho nhiem ky 2001-2006. TrUöc dö, anh Tong vu dä bäo tin chon anh Phanxicö Xavie M. Dö Cao Tüng läm Giäm tinh Chi Döng thay the anh Giuse M. Trän Ngoc Diep, sau khi thäm dö y kien cüa cäc tu sltai Chi Döng theo hien phäp dieu 118.

II.        ĐÀO TAO VÄ HUAN LUYEN PHÄN TỬ

Cöng viec däo tao vä huan luyen phän tii luön lä möi quan täm häng däu cüa Chi Döng, vi däy lä möt thäch dö nghiem trong cho moi döng tu trong xä hoi tu do vä vat chat näy.

A.        De Tử Sinh

Đệ tử viện của Chi Dòng Đồng Công được thành lap ngay từ näm 1975 tai nhä Chi Döng. Từ näm 1986, möi näm de tử vien nhän 30 em de tü sinh dang hoc trung hoc tif löp 10 den löp 12. Häng ngäy, ve đạo duc, cäc em tham du cäc giö thänh lä, chäu Thänh The, vä cäc cuöc hoi thäo. Ve tri duc, cäc em theo hoc tai Truöng trung hoc Cöng giäo McAuley, vä möi cuöi tuän, cäc em cö giö hoc giäo ly, Viet vän, vä am nhac. Ve the duc, hang ngäy cäc em cö giö chöi the thao hay täp t!ie duc. Tif näm 1975 den näm 2002, tif de tif vien len, dä cö 5 linh muc, 13 vlnh the, vä 12 hanthe.

B.        Tien Täp vä Täp Sinh

Tif näm 1986 den näm 2002, Nhä Chi Döng cö 16 löp täp, tong cöng lä 176 anh em, dUöc ket nap tif möt so väo tu sau khi dä xong trung hoc vä tif de tif vien len. Cäc anh em tien täp vä täp sinh hang ngäy möt buöi läm cäc cöng täc trong tu vien nhu läm nhä in, töa bäo, nhä giät, y te... vä möt buöi hoc cäc mön theo hien phäp chi dinh.

c. Khấn Sinh

Các tu sĩ khấn trước năm 1975 (từ Lớp khấn ! đến hết Lớp khấn XI) được thu gọn lại thành ba đội. Anh em khấn sau 1975 làm thành các Đội khấn XII, XIII, và XIV. Đội khấn XII gồm các lớp khấn từ năm 1981 đến 1989; Đội khấn XIII gồm các lớp khấn từ năm 1990 đến năm 1995; và Đội khấn XIV gồm các lớp khấn từ năm 1996 đến hiện tại. Sau khi tuyên khấn, anh em tiếp tục sống tại nhà Chi Dònụế Mỗi ngày làm công tác một buổi và học một buoi theo các lớp như hiến pháp đã đề ra.

Sau khi tuyên khấn được hai hay ba năm, anh em bắt đầu theo học tại các chủng viện hay đại học. Từ năm 1991, một số anh em được chọn theo học tại chủng viện Conception (triết học), do các cha Dòng Biển Đức điều khiển. Để có nơi cho anh em

hằng ngày sinh hoạt với nhau (thánh lễ, chầu Thánh Thể, hội thảo), Dòng Biển Đức đã cho anh em thuê một căn nhà, và Tu xá Mẹ Dâng Mình đã được thành lập. Một số anh em khác học tại Đại học Southwest Missouri State và Đại học Ozark Technical tại thành phố Springfield, Missouri. Các anh em theo học tại hai đại học trên CƯ ngụ tại Tu xá Mẹ Mân Côi, đã được thành lập từ tháng 10 năm 1976. Anh em theo học tại các chủng viện hay đại học hằng năm trở về sống chung tại Nhà Chi Dòng trong hai dịp lễ Giáng Sinh và mùa hè.

D. Linh Mục

Từ năm 1986 đến nay, 2002, tại Nhà Chi Dòng có 14 lớp thụ phong linh mục (37 linh mục), nâng tổng số linh mục Chi Dòng lên 68. Sau khi hoàn tất chương trình đại học và triet học, anh em được chọn để theo chương trình thẩn học. Từ năm 1982, anh em

theo học tại Đại chủng viện Notre Dame (thẩn học) tại thành phố New Orleans, tiểu bang Louisiana. Trong những năm đầu, anh em ở trong chủng viện chung với các chủng sinh khác. Nhưng từ năm 1991, Chi Dòng đã mua một căn nhà và thiết lập Huấn viện Mẹ Vô Nhiễm nhưđã nói trên đây.

Sau khi chịu chức linh mục, anh em tiếp tục phục vụ tại Nhà Chi Dòng. Tùy nhu cầu và hoàn cảnh, một số linh mục được cử đi phục vụ tại các giáo xứ, cộng đoàn người Việt Nam cũng như người Hoa Kỳ như trong giai đoạn I.

E. Qua Đời

Tại Hoa Kỳ, Chúa đã kêu gọi một số anh em về với Ngài, sau một đời trung thành trong lý tưởng Đồng Công. Các anh vĩnh thệ gồm có các anh:

1.         Gia Đình Đồng Công

Để tiếp nối chương trình giúp giáo dân có phương tiện nên thánh theo hiến pháp Dòng điều 105, khóa tĩnh huấn Gia Đình Đồng Công đầu tiên đã được tổ chức tại Nhà Chi Dòng vào mùa hè năm 1992. Đến nay, Chi Dòng đã hoàn tất 23 khóa tĩnh huấn gồm có 856 anh chị trong Gia Đình Đổng Công. Ngoài các khóa tĩnh huấn, hằng năm có một ngày tĩnh tâm bán niên được tổ chức tại Nhà Chi Dòng. Hàng tháng các anh chị ở mỗi vùng hội thảo và sinh hoạt với nhau để chia sẻ những kinh nghiệm sống và về tinh thần tận hiếnế Để như một mối giây liên kết các anh chị trong Gia Đình Đồng Công, tờ "Thánh Gia" xuất bản mỗi tháng một lần, với bài chia sẻ của anh phụ trách Gia Đình Đồng Công và tin tức tường thuật về sinh hoạt của các vùng, được gửi tới các thành viên trong toàn quốc Hoa Kỳ.

2. Giáo Sĩ Dưỡng Đường Đồng Công

Theo gương của Vị Sáng lập, Chi Dòng Đồng Công Hoa Kỳ từ những năm đầu định cư tại Carthage, đã tiếp đón các cha về hưu tại khu vực Nhà Dòng. Trong những năm ấy, vì hoàn cảnh chưa cho phép nên chỉ có thể nhận một số nhỏ linh mục. Đặc biệt có Đức Tổng Giám mục Phêrô Martinô Maria Ngô Đình Thục, tổng giáo phận Huế, sau thời gian liên hệ tốt đẹp lại với Tòa Thánh, đã an nghỉ tại nghĩa trang Chi Dòng. Từ năm 1993, Nhà hưu duồng Mater Dei đã được hoàn thành, luôn luôn có hơn kém 10 cha nghỉ ngơi tại đây (gồm cả linh mục Hoa Kỳ). Một số cha đã được Chúa gọi về, như cha Phaolô Cao Văn Luận, cha Phanxicô Lê Văn Lý, cha Đaminh Lương Kim Định, cha Augustinô Nguyễn Văn Phương, cha Nguyễn Văn Nguyện

5.         Ngày Thánh Mẩu

Hằng nằm, một trong những sinh hoạt tông đồ chính của Chi Dòng là việc tổ chức Ngày Thánh Mấu. Từ một ngày đền tạ Trái Tim Đức Mẹ vào đầu tháng

7          năm 1978, với một chương trình thật đơn sơ, Ngày Thánh Mầu đã từ từ phát triển như đã nói trên. Như trong năm 2002, từ ngày 8 đến 11 tháng Tám, Ngày Thánh Mau lần thứ 25 đã được tổ chức. Trong gần ba ngày đó, 16 thánh lễ, với 4 thánh lễ đại trào, đã được cử hành. Sau cuộc kiệu Thánh Thể vào đêm thứ Năm và trọn ngày thứ Sáu, các giờ đền tạ Thánh Thể được  tổ chức liên tiếp, và cả ngày thứ Bảy, các thánh lễ và giờ đền tạ Khiết Tâm Mẹ được cử hành trong Đền thánh Khiết Tâm Mẹ. Nhiều buổi hội thảo dành cho phụ huynh, giới trẻ, thiếu niên, và hội thảo về Đức Mẹ cũng được tổ chức đều đặn. Cao

CUỘC cung nghinh Thánh tượng quốc tế Mẹ Fatima. Đây là một trong bốn thánh tượng đã được Đức Thánh Cha Gioan XXIII long trọng làm phép để thánh du quốc tế. Thánh tượng cũng từng thăm viếng Việt Nam hai lần trước 1975. Hiện Thánh tượng được dành riêng cho Việt Nam, được tôn kính tại Đền thánh Khiết Tâm, Dòng Đổng Công, Hoa KỳẾ Ngày Thánh Mau Thánh tượng được cung nghinh do chừng 40.000 người, sắp hàng bảy, trên các đường trong thành phố Carthage. Cuộc cung nghinh được kết thúc bằng việc dâng hiến nước Việt l\lam cho Trái tim Mẹ. Ngoài ra, vào tối thứ Tư trước Ngày Thánh Mẩu, một cuộc cung nghinh và thánh lễ kính Thánh Cả Giuse được tổ chức để xin Ngài bảo trợ cho mọi sinh hoạt của Ngày Thánh Mẫu.

Trong các Ngày Thánh Mau, cũng như trước đây, nhiều vị lãnh đạo trong Giáo Hội đã được mời đến tham dự, trong số đó có Đức cố Hồng y Nguyễn Văn Thuận, Đức Hồng y Law (vị đại ân nhân của Chi Dòng), các Đức Sứ thần Tòa Thánh tại Hoa Kỳ, Đức cha John Leibrecht, Giám mục sở tại, và một số tổng giám mục và giám mục (có một số vị ngoài Hoa Kỳ như Canada, Togo bên Phi châu, Fatima, Đài Loan), các linh mục và tu sĩ nam nữ Việt, Mỹ. số người tham dự cũng dần dần gia tăng, từ hơn một ngàn vào năm 1978, đến nay đã lên tới 50, 60 ngàn người, không những trong nước Hoa Kỳ, mà từ nhiều nước khác ở châu Mỹ, châu Âu, châu úc, trong số đó có tới cả ngàn người ngoài Công giáo. Trong gần ba ngày, khách hành hương vẫn vui tươi sốt sắng, dù phải chịu cảnh thiếu thốn về nhiều phương diện, nhất là chịu cảnh nóng bức của mùa hè; thay vì có nhà ở, họ phải ở trong hàng ngàn những túp lều dựng lên tạm thời. Vì số người tham dự mỗi ngày mỗi đông, nên trong mấy năm vừa qua, Chi Dòng đã tậu thêm 20 mẫu đất, để có đủ chỗ cho khách hành hương đóng lều ở tạm.

Cũng như trong giai đoạn trước, điều đáng ghi nhớ hơn cả trong những Ngày Thánh Mau là biết bao ơn lành Chúa, Mẹ Maria, Thánh Cả Giuse, các Thánh Tử Đạo Việt Nam đã ban cho những người tham dự. Về mặt tinh thần, nhiều người đã trở về với Chúa qua nhiệm tích hòa giải, và nhờ các thánh lễ, giờ đền tạ, hội thảo, nhiều người đã được ơn đổi mới tâm hồn. Các Ngài cũng ban ơn gìn giữ cho an ninh, trật tự được tốt đẹp và thời tiết thuận lợi.

4. Sinh Hoạt Mùa Giáng Sinh

a.         Điện Giáng Sinh "Con Đường Cứu Rỗi"

Từ mùa Giáng Sinh năm 1984, Chi Dòng tổ chức trình bày điện Giáng Sinh với chủ đề "Tội Lỗi và Cứu Độ", từ lễ Tạ ơn của Hoa Kỳ tới Tết dương lịch. Đến năm 1986, vì các khung ảnh được xếp hai bên đường trong khu vực của nhà Chi Dòng, nên đã đổi tên là

"Con Đường Cứu Rỗi" (The Way of Salvation). Ngày nay, "con đường" này dài hơn một cây số. Nhiều biến cố trong Thánh kinh, từ Cựu ước đến Tân ước, được diễn tả qua các khung sắt được bọc bằng bóng điện nhỏ mỗi mùa Giáng Sinh, khoảng hai chục ngàn xe với số hơn kém 150.000 người đi qua "Con Đường Cứu Rỗi" này.

b.         Cầu Nguyện Liên Tôn

Từ năm 1987, để mừng lễ Chúa Giáng Sinh và để cầu cho hòa bình thế giới, Chi Dòng hằng năm tổ chức một buổi cầu nguyện liên tôn. Trong dịp này, các linh mục, mục sư, và một số ân nhân của Chi Dòng được mời đến tham dự buổi cầu nguyện (thường kéo dài quãng 45 phút), và sau đó là tiệc mừng Chúa Giáng sinh. Trong một số năm, cũng có sự hiện diện của Đức cha John Leibrecht, Giám mục giáo phận sở tại.

5. Tĩnh Tâm Mùa Chay cho Giới Trẻ

Đức Thánh Gioan Phaolô II nhiều lần đã nói giới trẻ chính là nguồn hy vọng và là tương lai của Giáo Hội. Đáp lại niềm mong đợi của Đức Thánh Cha, từ mùa Chay năm 1987, hằng năm Chi Dòng tổ chức một ngày tĩnh tâm cho giới trẻ tại Nhà Chi Dòng. Ngày tĩnh tâm được tổ chức với mục đích giúp người trẻ ý thức hơn về đời sống tâm linh và giúp họ tìm ra ơn gọi của họ trong cuộc đời. Mùa Chay năm 2002, hơn 700 anh chị em đã đến tham dự ngày tĩnh tâm.

6. Nguyệt San Trái Tim Đức Mẹ

Nguyệt San Trái Tim Đức Mẹ được tái bản tại Hoa Kỳ vào mùa Giáng sinh năm 1977, và từ đó vẫn được xuất bản hằng tháng. Đây là phương tiện truyền thông rất hữu hiệu để truyền bá lòng sùng kính Mẹ Maria, cách riêng ba mệnh lệnh Fatima, cổ võ lòng trung thành và yêu mến Giáo Hội, và chia sẻ cuộc sống chứng tá Tin mừng. Hơn nữa, Nguyệt San Trái Tim Đức Mẹ còn là phương tiện giúp người Việt bất kỳ ở đâu cũng giữ được truyền thống, văn hóa Việt Nam, và đồng thời giữ vai trò thông tin liên lạc cho người Việt hải ngoại.

7 Đền Thánh KhiếtTâm Mẹ

Từ tháng 5 năm 1982, Đền thánh Khiết Tâm Mẹ đã trở nên trung tâm hành hương cho người Việt Nam tại Hoa Kỳ. Trong những năm qua, nhiều nhóm đã tổ chức những cuộc hành hương đến Đền thánh Khiết Tâm Mẹ để cầu nguyện, xin khấn, và kính viếng Thánh tượng quốc tế Mẹ Fatima. Cũng nên biết Thánh tượng Mẹ Fatima này đã viếng thăm miền Nam Việt Nam (từ vĩ tuyến 17 trở vào) từ năm 1965 đến 1967, rồi về ngự tại Trung tâm Thánh Mẫu quốc tế Fatima. Vào dịp Ngày Thánh Mau năm 1984, Thánh tượng Mẹ sang Hoa Kỳ và ở lại Đền thánh Khiết Tâm Mẹ cho đến nay. Tại Hoa Kỳ, Thánh tượng Mẹ đã viếng thăm nhiều giáo xứ và cộng đoàn Việt- Mỹ. Hằng tháng, nhiều người Việt cũng như Mỹ đã liên lạc với văn phong Đền thánh Khiết Tâm để xin khấn trong các tuần cửu nhật.

Nối liền với Đển thánh Khiết Tâm Mẹ là công trường Nữ Vương Hòa Bình. Công trường này được khánh thành vào Ngày Thánh Mau năm 1983. Ngự tại công trường là tượng Đức Mẹ Tỵ nạn cao gần mười mét (34 bộ Anh) và một Vườn cầu Nguyện. Tại Vườn này, tên nhiều người còn sống cũng như qua đời đã được khắc trên những tấm bảng đồng để được cầu nguyện hằng ngày. Trong những Ngày Thánh Mẩu, một thánh lễ riêng trọng thể được cử hành tại đài Nữ Vương Hòa Bình cẩu cho những người đã khắc tên nơi Vườn CầuNguyệnề

Từ năm 1985, Đền thánh Mẹ Dâng Con tại thành phố Highgrove, tiểu bang California, đã được thiết lập để đáp ứng một số nhu cầu mục vụ cho người Công giáo Việt Nam tại miền Tây Hoa Kỳ. Hằng năm, Ngày Hiền Mẩu được tổ chức hai lần vào tháng Năm và tháng

Mười (mấy năm đầu mỗi năm ba lần, lần nhất vào dịp Tết Việt Nam) với các thánh lễ, cung nghinh Thánh tượng quốc tế Mẹ Fatima và các cuộc hội thảo.

Vì cơ sở tại Highgrove quá chật hẹp, nên năm 1994, Chi Dòng đã mua lại khu nhà thờ Tin lành rộng rãi tại thành phố Corona, và chuyển Đền thánh Mẹ Dâng Con đến cơ sở này. Tại đây, những Ngày Hiền Mẩu vẫn được tiếp tục tổ chức trọng thể hai lần mỗi năm. Trụ sở mới này có một trung tâm tĩnh tâm, nhiều nhóm giáo dân xa gần đã đến tĩnh tâm và cầu nguyện.

9.         Mục vụ GiáoXứ, Cộng Đoàn VN

Vì nhu cầu mục vụ của người Việt I\lam tại Hoa Kỳ, nên hiện nay, gần 30 linh mục thuộc Chi Dòng đang phục vụ tại các giáo xứ và cộng đoàn Việt Nam tại nhiều nơi trên nước Mỹ:

Tiểu bang California: Đền thánh Mẹ Dâng Con (Corona), giáo xứ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam (Sacramento), các cộng đoàn Công giáo Việt Nam tại Riverside, San Bernardino và Ontario.

Tiểu bang Colorado: Giáo xứ Nữ Vương Các Thánh Tử Đạo Việt Nam (Denver).

Tiểu bang Massachusetts: Các cộng đoàn Công giáo tại Boston và miền phụ cận.

Tiểu bang Minnesota: Giáo xứ Thánh Giuse Hiển (Minneapolis), cộng đoàn Đức Mẹ Đồng Công (Saint Paul).

Tiểu bang Missouri: Cộng đoàn Đức Mẹ Lên Trời (Springfield), cộng đoàn Carthage.

Tiểu bang Nebraska: Giáo xứ Khiết Tâm Mẹ (Lincoln).

Tiểu bang New York: Các cộng đoàn Việt Nam tại Syracuse và Rochester.

Tiểu bang Texas: Giáo xứ Nữ Vương Việt l\lam (thành phố Port Arthur), giáo xứ Đức Mẹ Việt Nam (Amarillo), giáo xứ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam (Arlington), giáo xứ Kitô Vua và giáo xứ Đức Mẹ Fatima (Fort Worth), cộng đoàn Đức Mẹ Lên Trời (Wichita Falls).

Ngoài ra, hiện nay các linh mục Chi Dòng đang phục vụ tại hai giáo xứ người Mỹ trong giáo phận Springfield-Cape Girardeau: Giáo xứ St. Ann (Carthage), và giáo xứ St. Canera (Neosho).

Nhìn lại tổng quát hơn 27 năm tại Hoa Kỳ, Chi Dòng Đồng Công đã không ngừng phát triển về nhiều mặt. về tinh thần Dòng, anh em Chi Dòng vẫn cố gắng hiệp nhất và tuân hành mọi chỉ thị của Đấng Sáng Lập, của bề trên các cấp, trung thành với hiến pháp và tinh thần Dòng, để chứng tỏ ý chí luôn bảo tổn Dòng và phát triển việc truyền giáo như lời trăng trối của Anh Cả, mặc dầu còn nhiều khiếm khuyết. Về phương diện nhân sự, tuy gặp nhiều khó khăn gây nên bởi những phức tạp của thời thế và của xã hội, Chi Dòng vẫn không ngừng có những ơn gọi mới. Công việc truyền giáo và tông đồ mục vụ đã được mở rộng và đã đáp ứng được phần nào những nhu cầu của người Công giáo Việt l\lam tại Hoa Kỳ theo nguyện vọng của Tòa Thánh qua văn thư thành lập Chi Dòng năm 1980.

Chi Dòng Đồng Công Hoa Kỳ có được bộ mặt như ngày hôm nay: vâng lời hiệp nhất với các bề trên và đoàn kết yêu thương xây dựng... Tất cả là nhờ tình âu yếm, săn sóc, hướng dẫn và ơn phù trợ đặc biệt của Thiên Chúa, Đức Mẹ Đồng Công, Thánh Cả Giuse, cũng như lòng quảng đại, khuyến khích và ủng hộ của nhiều vị ân nhân khắp nơi về vật chất cũng như tinh thần. Chi Dòng xin chân thành và mãi mãi cảm tạ, tri ân.

Vì Mẹ Maria là Vị Sáng Lập chủ động mọi sinh hoạt của Dòng, là Thủ Lãnh tối cao, chl huy, dẫn dắt và huấn luyện mọi phần tử trong Dòng (xem TL 91), nên toàn thể anh em Chi Dòng hoàn toàn tín thác nơi Mẹ, cố gắng tiến cao hơn trong tinh thần bé nhỏ, lệ thuộc vào Mẹ như Anh Cả hằng mong ước. Hy vọng trong tương lai, Chi Dòng sẽ thăng tiến mạnh mẽ hơn hầu có thể đáp lại tình yêu thương bao của Chúa, Mẹ, Anh Cả và anh em dành cho trong dịp đặc biệt mừng 5Q năm thành lập Dòng.